CÁCH LẬP BÀN THỜ TỔ, BÀN THỜ VỌNG, BÀN THỜ CHO NGƯỜI MỚI MẤT – Nội Thất Lối Xưa/ Đồ Châu Âu

I. CÁCH LẬP BÀN THỜ :

1.1  Bàn thờ Tổ (Bàn Thờ Họ):

Tất cả con cháu cùng một dòng họ lập chung một bàn thờ vị Thủy tổ, gọi là Từ đường của dòng họ. Ngày xưa bài vị được ghi bằng chữ Hán. Nhiều dòng họ không có nhà thờ riêng thì xây một đài lộ thiên dựng bia đá, tên thụy, hiệu các tổ tiên.

Mỗi khi có giỗ tổ, hoặc có tế tự của một chi họ, thì cả họ hoặc riêng chi họ đó ra đài lộ thiên cúng tế. Đài lộ thiên này là nơi để cúng tế, hoặc tổ chức triển khai các trò vui trong ngày giỗ tổ dòng họ hoặc một chi họ. Cúng tế xong sẽ về nhà tộc trưởng hoặc trưởng chi cùng ẩm thực ăn uống. Những dòng họ lớn, giàu sang thường tổ chức triển khai trò vui vào đêm hôm Tiên thường .
Những dòng họ lớn có điều kiện kèm theo thì kiến thiết xây dựng Nhà thờ Tổ có khoảng trống nội thất bên trong đủ lớn để sắp xếp 3 ban thờ, Ban thờ giữa thờ Thủy Tổ và các chi trong dòng họ, ban thờ bên trái ( từ trong nhìn ra ) thờ Mãnh Tổ, ban thờ bên phải thờ Cô Tổ .
Nhà thờ Tổ được giao cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hỏa, và chỉ khi nào ngành trưởng không có con trai nối dõi thì việc cúng bái mới chuyển sang chi dưới .
Hằng năm, đợt nghỉ lễ giỗ tổ tiên tại nhà thời thánh họ là dịp hội họp lớn nhất của tộc họ, nó đồng thời cũng là dịp để nối lại mối quan hệ họ hàng ngày càng thân thương ..

Trưởng Các ngành về sau được thờ trên Ngai Thờ, trên Ngai Thờ để bài vị  hoặc là một ống quyển, hoặc khối hộp chữ nhật sơn son thiếp vàng đứng chứa đựng gia phả, có phủ nhiễu điều bên ngoài. Nơi đây là nơi được xem là linh thiêng nhất, nơi mà linh hồn các bậc tổ tiên sẽ ngự trị.

 Gia Phả :   Bất cứ nhà thờ nào trước đây đều cất giữ cuốn sổ ghi chép thế thứ trước sau của tổ tiên, và các thế hệ nối tiếp từ đời này qua đời khác. Cuốn sổ đó được gọi là cuốc gia phả. Sổ gia phả ngày xưa được dùng bằng giấy sắc, viết rất rõ ràng, nắn nót để tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên, thường được đặt trong khám hoặc trong một lớp riêng để trên bàn thờ. Những dòng họ to, gia phả được chép hoặc in sao thành nhiều bản cho mỗi chi họ một bản để con cháu hiểu rõ về tổ tiên mình.

Trong gia phả, mỗi vị tổ tiên đều được ghi những dòng trích ngang, ngày tháng sinh tử, tên họ, chức tước, có khi còn ghi cả tính tình, sở trường thích nghi của các vị lúc sinh thời. trong đó còn ghi rõ vị nào tên gì, sinh ra những ai, ngành trưởng, ngành thứ là những ai. Trong gia phả ghi chép vừa đủ cả công trạng của tổ tiên, sinh ở đâu, táng ở đâu, được nơi nào thờ phụng làm phúc thần hay thành hoàng làng so với những người đã từng là công thần, có công với dân với nước .
Gia phả thời nay nay được biên soạn bằng chữ Quốc ngữ, được in rất đẹp cùng tranh vẽ … như một cuốn nhật ký của Dòng họ. Gia phả ngày này không chỉ được cất giữ cẩn trọng trong tủ thờ của nhà thời thánh họ, mà còn được in bản tóm tắt cùng các sơ đồ phả hệ, được treo sang chảnh trên các khung ảnh xung quanh tường nhà thời thánh họ để các con cháu xa quê mỗi dịp về thắp hương được đọc, noi gương và tự hào về dòng họ, về quê nhà bản quán của Tổ Tiên …

Mọi Người Cũng Xem   Hướng dẫn cách lạy trong thờ cúng để không phạm bất kính

1.2 Bàn thờ bà cô ông mãnh

Trong Nhà thờ Tổ, Bàn thờ bà cô ông mãnh được lập ở hai bên bàn thờ tổ. Bàn thờ phía bên trái ( từ trong nhìn ra ) được thờ MÃNH TỔ, bàn thờ bên phải thờ CÔ TỔ .

Bà cô ông mãnh là từ mà dân gian dùng cho những người chết trẻ, chưa lập mái ấm gia đình. Người ta cho rằng vì chết trẻ nên bà cô ông mãnh rất rất linh. Nếu cảm thấy “ hợp ” người thân trong gia đình nào thì sẽ phù hộ độ trì rất nhiều. Nếu thờ cúng bà cô ông mãnh không đến nơi đến chốn sẽ bị quở phạt. Bà cô ông mãnh lẽ ra cũng nên thờ cúng với tổ tiên, nhưng dân gian ý niệm rằng bà cô ông mãnh tuổi thấp nên chưa thể hưởng hương hoa cùng các cụ đời trước được. Giống như trên cõi dương gian, trẻ con chỉ ngồi riêng một mâm khi ăn giỗ nên bà cô ông mãnh cũng được thờ riêng 1 bàn thờ .
Ngày xưa, Bàn thờ bà cô ông mãnh được đặt dưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên. Cũng hoàn toàn có thể đặt cùng trên bàn thờ tổ tiên nhưng bát nhang phải thấp hơn thờ gia tiên 1 bậc. Cũng hoàn toàn có thể lập riêng bàn thờ nhưng phải thấp hơn bàn thờ tổ tiên. Bài trí bàn thờ bà cô ông mãnh rất đơn thuần, sơ sài. Chỉ đặt bài vị ( hoặc ảnh ), bát nhang, chén nước, bình hoa, đôi đèn … Người ta cúng vào ngày sóc vọng, ngày kỵ, giỗ Tết giống thờ tổ tiên .
Ngày nay, khi có điều kiện kèm theo, hầu hết các nhà thời thánh tổ đều lập 02 bàn thờ riên để thờ bà cô ( Cô Tổ ) và ông mãnh ( Mãnh Tổ ), trong đó bàn thờ các Mãnh Tổ được thờ bằng Ngai, bàn thờ Cô Tổ được đặt Khám Thờ thật sang chảnh .
Nếu người cúng ngang hàng với bà cô ông mãnh thì chỉ lâm râm khấn mà không cần lễ. Nếu thuộc hàng dưới thì phải khấn và lễ. Khi mái ấm gia đình gặp chuyện về sức khỏe thể chất, vật chất … người ta cúng bà cô ông mãnh để được phù hộ độ trì cho mọi sự được hanh thông và tốt hơn .

1.3 Bàn thờ chi :

Nhiều họ lớn chia thành nhiều chi. Mỗi chi lại đông con cháu nên ngoài việc tham gia ngày giỗ tổ toàn họ còn có ngày giỗ tổ riêng của chi họ. Các chi đều có nhà thời thánh riêng, gọi là bản chi từ đường .
Hiện nay, trên bàn thờ nhiều mái ấm gia đình ở nông thôn vẫn còn đặt bức hoành phi mang dòng chữ nói rõ đó là từ đường của chi họ nào. Từ đường có nghĩa là nhà thời thánh. Trên bàn thờ này có bài vị của ông Tổ, nên gọi là Thuần chủ bản chi. Thần chủ này cũng như Thần chủ của Thủy tổ họ sẽ được thờ mãi mãi .
Người trong chi họ có dành một số ít ruộng để lấy hoa lợi cúng giỗ, ruộng này gọi là Kỵ điền .

Mọi Người Cũng Xem   Cách cắm hoa Tết để bàn thờ, để bàn phòng khách đẹp, đón tài lộc, may mắn - https://hoasenhomes.vn

1.4 Bàn thờ vọng

Bàn thờ vọng là một loại bàn thờ được lập bởi những người sống ở xa quê, ít có điều kiện kèm theo về nhà con trai trưởng dịp giỗ Tết. Ngày xưa, bàn thờ vọng chưa phải là phong tục hầu hết bởi hầu hết người ta đều sống và sinh cơ lập nghiệp ngay tại quê nhà, chỉ có một số ít trường hợp đặc biệt quan trọng gọi là biệt quán, li hương .

Do go my nghe Hai Minh Hai Hau Nam Dinh Viet Nam

Bàn thờ Vọng được lập bởi những người sống xa quê

Thời phong kiến trước đây, các quan trong triều đình tập trung vọng bái thiên tử tức vái lạy từ xa. Những người ở nơi biên ải cũng lập hương án hướng về phía kinh đô để làm lễ khi nghe tin vua chúa mất mà chưa đến dự đám tang được. Những người làm quan cũng lập một hương án hướng về quê hương để làm lễ khi nghe tin có người thân mất mà chưa kịp về chịu tang. Sau đó, họ cáo quan xin về cư tang 3 năm. Kể từ đó, bàn thờ vọng được hình thành, chỉ có những người sống xa quê mới lập bàn thờ vọng.

Những người ở gần quê, dù giàu hay nghèo cũng phái về nhà người con trai trưởng hoặc trưởng họ làm lễ trong dịp giỗ Tết, chú hoặc ông chú vẫn phải đền nhà cửa trưởng làm lễ dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng thấp như cháu, chắt … Do đó, không có tục lập bàn thờ vọng so với đời thứ ba ngay tại quê. Nếu người con trưởng mất hoặc sống xa quê, người con thứ tiếp nối con trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ tại nhà con trưởng là bàn thờ vọng .
Trước khi lập bàn thờ vọng, chủ nhà phải về quê để báo cáo giải trình với tổ tiên tại bàn thờ chính, xin phép chuyển một vài lư hương phụ hoặc một vài nén hương đang cháy giở đến bàn thờ vọng để thắp tiếp. Nếu có phòng riêng, để bàn thờ đặt ở một phòng riêng không liên quan gì đến nhau để tăng vẻ tôn nghiêm. Nếu không có phòng riêng thì đặt phối hợp phòng khách, phải đặt cao hơn chỗ tiếp khách. Bàn thờ đặt hướng về quê chính để gia chủ vái lạy thuận hướng về quê chính. Không nên đặt tại những chỗ uế tạp, cạnh lối đi, trừ trường hợp nhà quá hẹp. Những người mà sống trong khu tập thể thì chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng tôn kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra làm sao .

1.5  Bàn thờ gia tiên:

Bàn thờ riêng của từng mái ấm gia đình còn gọi là Gia từ, hay bàn thờ Gia tiên. Những mái ấm gia đình phong phú mới xây nhà thời thánh riêng cho mái ấm gia đình ( gọi là nhà thời thánh gia tiên ). Còn phần nhiều, bàn thờ gia tiên được thiết lập ngay ở gian giữa nhà chính .

Những người con thứ không cần phải có bàn thờ gia tiên vì không phải cúng giỗ, nhưng vì lòng tôn kính với tổ tiên, họ vẫn lập bàn thờ để cúng vọng .

Mọi Người Cũng Xem   4 cách tréo gà cúng đẹp, đơn giản nhất dùng cho thôi nôi và tất niên

1.6 Bàn thờ người mới mất

Những người mới mất chưa được thờ chung với tổ tiên mà được lập một bàn thờ riêng tại gian thờ hoặc gian nhà ngang. Được bài trí tương đối sơ sài : một bát nhang, bài vị ( hoặc ảnh ), lọ hoa, chén nước, ngọn đèn … Trong vòng 100 ngày ( tính từ ngày an táng xong ), người ta đều thắp hương cơm canh trước khi mái ấm gia đình ăn cơm, mời người mới mất thụ hưởng. Lúc này, linh hồn người chết còn quyến luyến người thân trong gia đình, “ hồn vía còn nặng ” chưa thể siêu thoát được, vẫn còn luẩn quẩn xung quanh nhà. Những người sống không muốn tin vào thực sự là họ vừa mới mất đi một người thân trong gia đình, làm vậy để dịu nỗi buồn. Nhưng có nơi chỉ cúng 49 ngày ( tức lễ chung thất ) .
Sau 49 ngày ( hoặc 100 ngày ), bát nhang người mới mất sẽ được rước lên bàn thờ tổ tiên Sau lễ trừ phục ( còn gọi là đàm tế ) bàn thờ người mới mất sẽ được vô hiệu cùng những đồ thờ riêng, đưa ảnh chân dung và bát nhang lên bàn thờ tổ tiên, đặt hàng dưới. Trường hợp không có bàn thờ tổ tiên thì sẽ vẫn giữ lại như cũ, chỉ cần yết cáo tổ tiên lên bàn thờ tổ

II. CÁCH BÀI TRÍ HOÀNH PHI CÂU ĐỐI CỬA VÕNG TRONG NHÀ THỜ TỔ

Nhà thờ ở nông thôn thường có ba gian hai cháu hoặc một gian hai chái. Và bàn thờ tổ khi nào cũng thiết lập ở gian hai chái. Và bàn thờ tổ khi nào cũng thiết lập gian nhà chính .

2.1 Hoành phi:

Hoành phi: là tấm biển bằng gỗ nằm ngang (Hoành là ngang, Phi là phô bày). Trên hoành phi ghi nội dung ca ngợi công đức của Tổ Tiên. Chữ trên hoành phi được viết bằng chữ thư pháp tiếng Hán hoặc chữ Quốc Ngữ. Dòng chữ lớn thường có 3 chữ hoặc 4 chữ như ĐỨC LƯU QUANG, ẨM HÀ TƯ NGUYÊN (uống nước nhớ nguồn) … dòng chữ nhỏ (gọi là dòng lạc khoản) ghi năm lập và tên người lập hoành phi.

2.2 Câu đối:

  Câu đối có nội dung và kiểu chữ thư pháp phù hợp với hoành phi. Có hai loại câu đối là câu đối phẳng và câu đối lòng mo ôm lấy cây cột.

Thông thường hoành phi câu đối có hai lớp :
( i ) lớp trong có nội dung giáo huấn đạo đức và truyền thống cuội nguồn .
( ii ) lớp ngoài có nội dung ca tụng công đức của dòng họ

2.3 Cửa võng: là phần điểm xuyết có tính ước lệ ngăn cách giữa không gian bên ngoài với bàn thờ. Cửa võng có rất nhiều loại, được đục thông phong (đục thủng) với các họa tiết trạm khắc tinh xảo, có mẫu mã phú  với nhiều điển tích khác nhau như: tứ linh (Long Ly Quy Phượng), Tứ Quý, Ngũ Phúc, Mai Hóa (long), Trúc Hóa, …

Cửa võng được phong cách thiết kế hai lớp, lớp trong đục tích tre hóa long, lớp ngoài đục truyện bảo vệ độ thoáng của bàn thờ

 

XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN QUÝ VỊ ĐÃ GIÀNH THỜI GIAN ĐỌC CHUYÊN SAN NÀY, KÍNH CHÚC QUÝ KHÁCH VÀ GIA ĐÌNH: MẠNH KHỎE – PHÚ QUÝ THỌ KHANG NINH !

 

Related Posts

About The Author

Add Comment