Phật lịch được tính như thế nào?

PHẬT LỊCH ĐƯỢC TÍNH NHƯ THẾ NÀO ?
Quang Mai

Phật lịch được tính bắt đầu từ khi đức Phật nhập Niết Bàn, chứ không tính từ ngày Phật Đản là ngày Thái Tử Tất Đạt Đa mới vừa đản sanh chứ chưa thành Phật. Điều lý giải này cũng hợp lý và không mấy khó hiểu nhưng có người lại đặt câu hỏi: Vậy thì 80 năm trụ thế và hành đạo của đức Phật tính vào đâu? Nếu thế sao không tính Phật Lịch từ khi ngài thành đạo? Thắc mắc này cũng không hẳn là không có lý.

Để khám phá Phật lịch của Phật Giáo được tính như thế nào, thiết nghĩ thứ nhất cần phải tham cứu một vài yếu tố thông tin cơ bản. Niên đại ; những điểm mốc lịch sử vẻ vang và sự dị biệt : Về yếu tố này, từ trước đến nay có nhiều thuyết và nhiều tài liệu ở Nước Ta cũng chưa thống nhất. Xin hãy tìm hiểu thêm qua 1 số ít ít các tài liệu sau : – Nước Ta Phật Giáo Sử Lược – Thích Mật Thể – Minh Đức tái bản 1960, trang 27 có ghi những năm được đề cập về ngày Phật đản sinh : 1027, 1023, 685, 624, 566, 561, 557, 487, 466 TTL. – Sơ Thảo Lịch Sử Phật Giáo Nước Ta ( tập 1 ) – Lê Mạnh Thát – Tu Thư Vạn Hạnh 1976, bản in ronéo : Đản sinh vào tầm thế kỷ VII trước TL. – Lược Khảo Phật Giáo Sử Nước Ta – Vân Thanh – 1974, trang 22 : Đản sinh vào năm 563 TTL và nhập diệt vào năm 483 TTL. – Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ – Thích Thanh Kiểm – Quê Hương tái bản 1971, trang 31-41 : Đản sinh ngày mùng 8 tháng 4 năm 642 TTL và nhập niết bàn ngày rằm tháng 2 năm ngài 80 tuổi ( 544 TTL ) ; sau đó ghi thêm 2 thuyết khác là : 566 – 486 TTL ( theo sách Chúng Thánh Điểm Ký ) và 563 – 483 ( theo Sử Pipavamsa của Nam Phương Phật Giáo ). Đồng thời cũng ghi thêm : Phật Giáo Nam Phương : Tích Lan, Miến Điện, xứ sở của những nụ cười thân thiện lại thường lấy năm đức Phật nhập niết bàn tức năm 544 TTL làm lễ kỷ niệm. – Thử Bàn Về Cách Tính Phật Lịch – Huyền Cương – Tạp chí Nghiên Cứu Phật Học số 1 – 1997, trang 25-26 ) : Đản sinh 623, xuất gia 604, thành đạo 593, chuyển pháp luân 592, nhập niết bàn 544 TTL. Những nguyên do dị biệt và sự thống nhất được gật đầu : Cả 2 hệ văn học chính của Phật Giáo – Pali và Sanskrit – đều ghi là đức Phật đản sanh nhằm mục đích ngày trăng tròn tháng Vesak ( 1 ). Đáng tiếc là nền văn học Ấn Độ lúc bấy giờ không chú trọng đến văn học sử nên ngày đản sinh của đức Phật không được ghi chép đơn cử, thậm chí còn năm sinh cũng không được xác lập. Năm sinh và năm nhập niết bàn của đức Phật đã từng là đề tài cho các học giả lớn ở phương Tây phải mất thời hạn nghiên cứu và điều tra và tranh luận rất nhiều, nhưng ở đầu cuối cũng không ai thuyết phục được ai ! Ví dụ trong cuốn When Did The Buddha Live ? The Controversy On The Dating Of The Historical Buddha được Heinz Bechert chỉnh sửa và biên tập, nhà xuất bản Sri Satguru Publications tại Delhi xuất bản vào năm 1995, các học giả lớn trong tuyển tập này cũng chỉ đưa ra các giả thuyết tương đối và tuỳ theo cách tiếp cận của mỗi người, chứ không có đưa ra một dẫn chứng lịch sử dân tộc chắc như đinh, xác quyết nào. Do đó, trước hết, tất cả chúng ta tạm có ý niệm gật đầu sự tương đối này. Nếu địa thế căn cứ theo lịch Ấn Độ, tháng Vesak tương tự với tháng 4 âm lịch Nước Trung Hoa và những nước chịu tác động ảnh hưởng văn hóa truyền thống Nước Trung Hoa ( trong đó có Nước Ta ). Do đó, ngày đản sinh của đức Phật phải là ngày trăng tròn tháng 4 âm lịch, chứ không phải là ngày 8 tháng 4 âm lịch. Nhưng trong sử Phật Giáo Trung Quốc, từ các loại sách Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư cho đến các bộ sử, truyện của các Cao Tăng có tương quan đến ngày Phật Đản đều ghi lễ kỷ niệm đức Phật đản sanh vào ngày 8 tháng 4 âm lịch. Phật Giáo Nước Ta chịu tác động ảnh hưởng Phật Giáo Trung Quốc rất thâm thúy và truyền kiếp, do đó trước đây cũng lấy ngày 8 tháng 4 âm lịch làm ngày kỷ niệm đản sanh của đức Phật ; kỷ niệm đức Phật xuất gia vào ngày 8 tháng 2 âm lịch, kỷ niệm đức Phật thành đạo vào ngày 8 tháng 12 âm lịch và kỷ niệm đức Phật nhập niết bàn vào ngày rằm tháng 2 âm lịch. Cho đến Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần tiên phong họp tại TP. hà Nội Ngưỡng Quang, Tích Lan từ ngày 25/5 đến 8/6/1950, toàn thể đại biểu Phật Giáo của 26 vương quốc mới thống nhất lấy năm đức Phật Thích Ca nhập niết bàn làm mốc để tính năm đầu Phật lịch ( cờ Phật Giáo quốc tế cũng được quyết nghị công bố và vận dụng tại Đại Hội lịch sử dân tộc này ). Rồi đến Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần thứ VI tại Hà Nội Thủ Đô Nam Vang, Cam Bốt năm 1961, mới chính thức thống nhất ngày kỷ niệm Phật Đản quốc tế là ngày rằm tháng tư âm lịch, theo cách quy đổi tương thích của từng vương quốc từ ngày rằm tháng Vesak Ấn Độ. Tuy nhiên các vương quốc Phật Giáo theo truyền thống cuội nguồn Thượng Toạ Bộ như Tích Lan, Miến Điện, Thailand, Lào, Cam Bốt đều làm lễ kỷ niệm chung cho 3 sự kiện trọng đại của đức Phật là đản sanh, thành đạo và nhập niết bàn, gọi chung là “ Lễ Tam Hiệp ” ( Lễ Tam Hợp ; The Triple Festival ). Các nước theo truyền thống cuội nguồn Thượng Toạ Bộ thường dùng nhóm từ ngữ “ Vesàkha Puja ” ( Lễ hội tháng Vesak ” hoặc “ Vesàkha Pun. n.amiya ” m ” nghĩa là “ Ngày trăng tròn của tháng Vesak ” để chỉ dịp nghỉ lễ này. Còn Phật Giáo Tây Tạng tuy thuộc Phật Giáo Đại Thừa nhưng lại chịu tác động ảnh hưởng truyền thống lịch sử Thượng Toạ Bộ về phương diện này, do đó Phật Giáo Tây Tạng cũng tổ chức triển khai chính thức ngày Phật đản sanh, thành đạo và niết bàn vào ngày trăng tròn tháng Vesak của Ấn Độ, tính theo dương lịch nhằm mục đích ngày 26 tháng 5, tương tự với ngày rằm của Nước Ta. ( Cũng cần quan tâm rằng vì cách tính thiên văn học của mỗi nước khác nhau, nên có năm sẽ có sự chênh lệch 1-2 ngày, đôi lúc chênh lệch 1 tháng do năm nhuận ). Tại Nước Ta, sau Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần thứ I ( 1950 ) nói trên, Đại Hội Phật Giáo Nước Ta năm sau đó – từ ngày đến ngày 6 đến ngày 9/5/1951 – tại chùa Từ Đàm, Huế, 51 Đại Biểu Tăng Già và Cư Sỹ của 6 tập đoàn lớn Phật Giáo bắc, trung, nam Nước Ta đã quyết nghị nhiều Phật sự hệ trọng giờ đây đã mang tính lịch sử dân tộc Phật Giáo, trong đó có việc công bố vận dụng thống nhất cờ Phật Giáo quốc tế cũng là Giáo kỳ Phật Giáo Nước Ta và sau Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần thứ VI ( 1961 ), Tổng Hội Phật Giáo Nước Ta thống nhất ngày đại lễ kỷ niệm Phật Đản là rằm tháng tư âm lịch thay vì 8 tháng tư như trước đây ( do truyền thống lịch sử, ngày 8/4 vẫn là ngày khai kinh, tụng kinh vía Khánh Đản và khởi đầu các hoạt động giải trí mừng khánh đản cho đến hết tối ngày rằm, thường gọi là Tuần Lễ Phật Đản ).

Mọi Người Cũng Xem   [Tips Sinh viên] - Công thức “nhẩm tính” điểm trung bình học phần sau mùa thi HK 1A

Riêng về niên đại các thời điểm trong lịch sử đức Phật Thích Ca tại các tài liệu có những dị biệt, căn cứ vào quyết nghị Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần thứ VI (1961), Viện Hóa Đạo Gíáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau khi lập hội đồng tra cứu, đối chiếu, đã ban hành thông bạch số 60 ngày 28/3/1962 công bố áp dụng một tài liệu thống nhất các ngày lễ kỷ niệm mà theo các chi tiết được ấn định tại tài liệu đó thì: Đức Phật (tức Thái tử Tất Đạt Đa lúc bấy giờ) sinh năm 624 TTL; lập gia đình năm 17 tuổi (607 TTL); xuất gia năm 19 tuổi (605 TTL); 5 năm hỏi đạo (605-600 TTL); 6 năm khổ hạnh (600-594 TTL); thành đạo lúc 30 tuổi (594 TTL); 50 năm hóa đạo (594-544 TTL) từ 30 tuổi đến 80 tuổi và năm ngài nhập diệt là năm 544 TTL. Phật lịch được bắt đầu tính từ thời điểm này.

Như vậy, tất cả chúng ta có cách tính Phật lịch đơn thuần như sau : Lấy mốc số 544 cộng với năm dương lịch hiện tại. ( Ví dụ : năm 2013 + 544 = 2557. Năm 2013 thì Phật lịch sẽ là 2557 ). Và do Phật lịch được mở màn tính từ năm Phật nhập niết bàn ( tức năm 544 trước TL ), nên thời gian lưu lại Phật lịch mới của một năm là vào ngày Vía Phật Thích Ca Nhập Diệt – 15 tháng 2 âm lịch. oOo Những nhầm lẫn thường thấy : Trong nghành nghề dịch vụ tìm hiểu thêm, soạn thảo, in ấn : Khi ấn loát kinh, sách, lịch và các ấn phẩm Phật Giáo khác, thường chỉ ghi năm dương lịch và Phật lịch đơn thuần, ví dụ : DL. 2013 – PL. 2557. Điều này không có gì sai, nhưng khi thực thi các văn kiện hay các bài viết có sử dụng hoặc chú thích năm Dương lịch cùng Phật lịch, tất cả chúng ta thường thấy có sự sai khác, chênh lệch, không thống nhất ( thường là sớm hay trể hơn 1 năm ). Nguyên do là vì cũng như Âm lịch, thời gian khởi đầu Phật Lịch mới không hề trùng với ngày đầu năm dương lịch ( ngày 1 tháng 1 ) nên người thực thi văn bản cần tính kỷ bằng cách tra cứu phối hợp dương lịch, âm lịch và phải hiểu biết cách tính Phật lịch ( mốc thời hạn đổi khác Phật lịch ) nếu không, sự chênh lệch, thiếu đúng mực sẽ rất dễ xảy ra. Ví dụ dễ hiểu : Như trên vừa tính ( theo mốc 544 + 2013 = 2557 ) thì năm 2013, Phật lịch là 2557. Tuy nhiên cùng trong năm 2013, từ ngày 26.3.2013 ( 15/2 / ÂL Quý Tỵ ) đến ngày 31.12.2013 ( 29/11 / ÂL Quý Tỵ ) mới là Phật lịch 2557 ; còn thời gian từ 25.3.2013 ( 14/2 / ÂL Quý Tỵ ) trở lại trước đến 1.1.2013 ( 20/11 / ÂL Nhâm Thìn ) lại là Phật lịch 2556. Trong nghành trang trí, tổ chức triển khai lễ lượt : Không như nghành trên, một điều thật đáng tiếc là sự nhầm lẫn không đáng có trong nghành trang trí, tổ chức triển khai các lễ lượt Phật Giáo này – thường thấy nhất là trong đại lễ Phật Đản – những người thực thi hoặc trấn áp đều là Tăng, Ni, Phật Tử mà lại sơ ý nhầm lẫn giữa Phật Đản và Phật lịch. Chúng ta nhiều lúc phát hiện những biểu ngữ ngớ ngẩn rất không dễ chịu. ( Ở đây lấy ví dụ là lễ Phật Đản năm dương lịch 2013, Phật lịch 2557 – thời gian chưa đến khi tác giả viết bài này – để khỏi gây không dễ chịu cho bất kỳ ai đơn cử ) : – Lối ghi không rõ ràng và người đọc ít thấy ngay ( hoặc ít … không dễ chịu hơn ) do không rõ nghĩa : KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN 2557 ; KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2557 v.v … – Lối ghi rất đơn cử, rỏ ràng nhưng … sai : KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN LẦN THỨ 2557 ; KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN LẦN THỨ 2557 ; KÍNH MỪNG ĐỨC PHẬT ĐẢN SANH LẦN THỨ 2557 v.v … Chúng ta cũng biết hai danh từ Phật Đản và Phật lịch khác nhau rất xa. Như trên đã nói, Phật lịch được tính từ năm đức Phật nhập Niết-bàn, chứ không phải là năm thái tử Tất Đạt Đa đản sinh. Do vậy, để tránh ngộ nhận về niên đại, khi muốn ghi như những trường hợp thứ nhất thì phải thêm chữ Phật lịch ( … .. ), ví dụ điển hình : KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN – PHẬT LỊCH 2557 ; còn muốn ghi đơn cử như những trường hợp thứ hai, cần phải cộng thêm 80 năm đức Phật trụ thế ( tức từ đản sanh đến nhập niết bàn ), ví dụ : 544 + 80 + 2013 = 2637, hoặc đơn thuần hơn : 2557 + 80 = 2637, nên phải ghi : KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN LẦN THỨ 2637 ; KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN SANH LẦN THỨ 2637 v.v … Một quan tâm sau cuối : Phật Giáo Nước Ta tuy theo truyền thống lịch sử Bắc Tông ( Đại Chúng Bộ ; Đại Thừa ) kỷ niệm vía Phật Thích Ca nhập niết bàn vào ngày rằm tháng 2 âm lịch, tính Phật lịch mới từ ngày này, nhưng nếu là truyền thống cuội nguồn Nam Tông ( Thượng Tọa Bộ ; Tiểu Thừa ) phải đến sau ngày rằm tháng 4 âm lịch ( lễ Tam Hợp – Vesak : Đản sanh ; Thành đạo ; Nhập diệt ) hằng năm mới bước sang năm mới Phật lịch. Chúng tôi cũng biết thêm, có thông tin lý giải là Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới đã lao lý năm mới Phật lịch tính từ dịp nghỉ lễ Vesak – 15.4. ÂL – kể từ sau khi Liên Hiệp Quốc công bố chính thức đưa lễ này vào tổ chức triển khai thường kỳ hằng năm ở khoanh vùng phạm vi quốc tế ( 2 ), tuy nhiên vì chưa chiếm hữu một văn kiện nào chính thức được lưu hành nên chỉ đưa thêm vào đây như một thông tin tìm hiểu thêm. QUANG MAI | Gia Đình Phật Tử Nước Ta trên Thế Giới CHÚ THÍCH : tin tức tìm hiểu thêm cho bài viết từ các tài liệu trích dẫn trong bài.

Mọi Người Cũng Xem   Tìm hiểu cách tính tăng ca đêm ngày chủ nhật và những chú ý

(1) Vesak là tên gọi của tháng thứ hai theo lịch pháp Ấn Giáo tại Ấn Độ, Nepal, Bangladesh. Vesak có nguồn gốc từ tiếng Sinhala, có thể đã được đọc trại ra từ Vaishākha trong tiếng Pali. Các nước coi Phật Giáo là quốc giáo như Tây Tạng gọi lễ này là là Saga Daw; Thái Lan là Visakha Bucha; Lào là Vixakha Bouxa; Indonesia là Waisak; Myanma là Ka-sone-la-pyae…

( 2 ) Ngày 15 tháng 12 năm 1999, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại phiên hợp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự, thể theo ý kiến đề nghị của 34 vương quốc, nhằm mục đích mục tiêu tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống, tư tưởng tự do, đoàn kết của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đã chính thức công nhận đại lễ Vesak là một liên hoan tôn giáo, văn hóa truyền thống quốc tế của Liên Hiệp Quốc. Những hoạt động giải trí kỷ niệm được cử hành hằng năm tại trụ sở và các TT của Liên Hiệp Quốc trên quốc tế kể từ năm 2000.

 

 

Related Posts

About The Author

Add Comment