Vòng trường sinh

Vòng Tràng sinh tượng trưng 12 thời chuyển biến của đời người. Theo ý nghĩa luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác con người do bào thai đúc kết được nuôi dưỡng sinh ra khôn lớn tranh đua với đời đến lúc cực thịnh rồi cũng phải suy tàn bệnh tật, chết đi còn lại nấm mộ rồi cũng tan biến hết.

Vòng tràng sinh biến chuyển từ dưỡng đến vượng theo hướng đi lên, từ Suy đến Thai theo hướng đi xuống, cần tỉnh táo trong mọi hành vi cương nhu cho hợp với tính con người .Trong 12 thời – Thai dưỡng là lúc ẩn dật chờ xuất thế .

Tràng sinh là lúc nhập thế – Mộc dục còn thơ ấu – Quan đới là lúc học hành, thi cử dự bị đón thời, Lâm quan là lúc đấu tranh lập nghiệp, Dế vượng là lúc thịnh thời, Suy bệnh là lúc nhược thời – Tử là tàn thời, Mộ là dư khí thời Mộ khố, là nơi tàng khí nên có dư ít nhiều, Tuyệt là hết thời.

Bạn đang đọc: Vòng trường sinh

Như vậy trong 12 chỉ có 5 thời là hành khí có sức tác động ảnh hưởng đáng kể là : Sinh – Mộc dục – Lâm Quan – Đế vượng – Mộ .Vòng tràng sinh chỉ cho biết những nơi tốt xấu thịnh suy của hành mà cục mang cho. Sách cổ viết :Mệnh hay cục Mộc -> Hạn đến cung Ngọ -> Bị tai ương hoạ hại mặc dầu hạn được tươi sángMệnh hay cục Hoả -> Hạn đến cung dậu -> Bị tai hoạ lớn – khó tránh nguy khốnMệnh hay cục Kim -> Hạn đến cung tí -> hạn bị suy bại -. Sức khoẻ kém có thương tích .Mệnh hay cục Thuỷ -> Hạn đến cung Sửu dần -> Mọi sự bế tắc đình trệ .Mệnh hay cục Thổ -> Hạn đến cung Mão Thìn Tị -> hạn suy nhược – đau ốm – nhiều bênh tật đáng sợ .Các chính tinh gặp Cục và các sao của vòng tràng sinh cần được so sánh ngũ hành để biết sự tăng cường hay giảm lực của sao đó với đương số .Ví dụ : Thuỷ Cục thì Thiên Tương – Phá Quân – Thái Âm – Thiên Đồng – Cự Môn được tăng cường – Nếu các chính tinh này gặp Tràng Sinh – Mộc Dục – Suy thì càng thêm sức mạnh .Với Cục Mộc thì Liêm Trinh được tăng cương nếu lại gặp Bệnh hay Tử thì càng mạnh và hợp nhau .Vòng tràng sinh còn có ý nghĩa với các cung Mệnh Thân Đại Hạn, Vì Mệnh Thân Đại hạn tương quan đến Cục .Hành của Cục So với cung an thân cho biết sự thành công xuất sắc hay thất bại của đương số. Ví dụ : Cung thân an tại Ngọ mà Thuỷ cục thì khó thành công xuất sắc nếu thiếu nhiều trung cát tinh miếu vượng – Vì thuỷ cục khắc hoả cung an Thân – Xem đại hạn cũng vậy ! Đại hạn ở Mão mà Kim cục thì du có nhiều sao Miếu vượng, hạn cũng gặp nhiều trắc trở khó khăn vất vả .Luận Tràng sinh Cục và Mệnh – Đại Hạn Phải tuân theo tam hợp và đạt hay không là do chính tinh miếu vượng đắc hãm .Nếu Vô chính diệu thì xét trung tinh hay hung tinh đắc địa .Tràng Sinh – Đế Vương – Mộ : đặt việc làm lên trên tình cảmMệnh Tràng Sinh : Cởi mở hồn nhiên – thích làm việc thiệnMệnh Tràng Sinh : Cởi mở hồn nhiên – thích làm việc thiệnMệnh Đế vượng : Thể hiện rất là về đời sống năng động và hoàn bịMệnh có Mộ : Thể hiện đời sống phấn đấu từng lãnh vực nhưng có nghành ứng xử không thích hợp .Mộc Dục – Suy – Tuyệt : Công việc bấp bênh, chưa vững chãi, thường có sự biến hóa, làm cho đương số lạc hướng, hay mất hướng đi .Mệnh có Mộc Dục : Khoe khoang, chưng diện cho mình về vật chấtMệnh có Suy : Mưu lược thống kê giám sát, có tư tưởng cao đẹp kiến thiết xây dựng xã hộiMệnh có Tuyệt : Bon chen, giành giật, ghanh tỵ, uy quyềnQuan Đới – Bệnh – Thai : Sử dụng tình cảm trong hành vi, tuy giận hờn, dễ bị u mê, vướng mắc, tình cảm không đạt được mong ước .Mệnh có quan đới : Thường ràng buộc việc này với việc khác, biết làm ăn giám sát việc nhỏ – Việc lớn phải có Lộc tồn hay Thanh Long mới đạt được – Cuộc sống thiên về tình cảm .Mệnh có Bệnh : Không thích hoạt động giải trí – Không thích đông người nếu có cô quả thích thao tác nơi vắng vẻ – Mỗi người mỗi việc, bảo thủ, hay giận hờn .Mệnh có thai : Sống theo kiểu bè đảng – vây cánh nên phải đi theo quỹ đạo có Triệt thì khó khăn vất vả, có tuần thì máy móc – muốn dứt mà không được .Lâm quan – Tử – Dưỡng : Tình cảm và lý trí rõ ràng – giận thương không cần biết. Tự lo, tự làm, tự tin. Cuộc sống không thay đổi vững chãi nhưng cứng ngắc .Mệnh có Lâm quan : Tự lo – Tự sẵn sàng chuẩn bị trước những việc làm của mìnhMệnh có tử : Tự tìm hiểu và khám phá, tự biết, tự lo về niềm tinMệnh có Dưỡng : Tự lực – Tự lo cho bản thân mình về đời sốngSinh Vượng Mộ mà Chính tinh hãm -> Bối cảnh thuận tiện thuận tiện nhưng bất chínhDục Suy Tuyệt mà chính tinh hãm -> Thường thao tác nguy khốn như buôn lậuĐới Bệnh Thai mà chính tinh hãm -> Thường mua chuộc tận dụng tình cảm để làm ăn phi nghĩa .Lâm Tử Dưỡng mà chính tinh hãm -> Công việc tuy khuôn thược nhưng cũng có bất chínhMệnh Sinh Vượng Mộ : Chết ởt đại hạn Dục Suy TuyệtMệnh Dục Sinh Tuyệt : Chết ở đại hạn Đới Bệnh ThaiMệnh Đới Bệnh Thai chết ở đại hạn Dục Suy TuyệtMệnh Lâm Tử Dưỡng gặp gian truân ở đại hạn Dục Suy Tuyệt nhưng chết ở đại hạn Đới Bệnh Thai .* Các cách trên nếu đại hạn có chính tinh sinh mệnh thì cứu được .Vòng Tràng Sinh là quy trình tăng trưởng của sinh mệnh chia ra 12 quá trình. Vòng Tràng Sinh đứng mỗi cung một “ sao ”. Theo các sách Trung Quốc thì số nam đi theo chiều thuận, số nữ đi theo chiều nghịch. Khoa tử vi Việt thì Dương Nam Âm Nữ đi theo chiều thuận, và Âm Nam Dương Nữ đi theo chiều nghịch .Vòng Tràng Sinh có một khúc mắc ấy là sao Mộ ( hay quá trình tăng trưởng Mộ ) chỉ có theo chiều thuận thì Mộ mới đóng ở Thìn Tuất Sửu Mùi là cung Mộ khố mà thôi, theo chiều nghịch sao Mộ không đóng ở bốn cung đó .Vậy thì Thìn Tuất Sửu Mùi vốn vẫn là tứ Mộ hay còn có sao Mộ nữa. Nếu phải có sao Mộ vào Thìn Tuất Sửu Mùi thì chuyện thuận nghịch của vòng Tràng Sinh không sống sót nữa và vòng này chỉ có một chiều thuận mà thôi cho nam hay nữ, dương hay âm .Câu phú : Phu cung đóng ở miền tứ Mộ. Gia Hồng Loan ấy số khóc chồng .Dịch từ câu : “ Sở ai giả, Hồng Loan tứ Mộ liệt Phu quân chi vị ” sẽ phải luận đoán thế nào ? Hồng Loan ở Thìn Tuất Sửu Mùi hoặc đứng với sao Mộ ? Muốn gỡ nút rối này thì chỉ có một con đường đồng ý vòng Tràng Sinh đi theo một chiều như vòng Thái Tuế .Rõ ràng câu phú trên chỉ vào chỗ đứng Thìn Tuất Sửu Mùi của sao Hồng Loan vì ở Thìn Tuất Sửu Mùi Hồng Loan thường gặp Cô Thần Quả Tú. Cô Thần Quả Tú không khi nào đứng ở các cung Tí Ngọ Mão Dậu. Trong khi Tràng Sinh đi nghịch thì Mộ lại ở Tí Ngọ Mão Dậu .Toàn bộ các Hành đều sinh trưởng theo chu kỳ luân hồi như sau :Thai ( Hành khí mới khởi đầu kết tinh, thời kỳ gây mầm mống )Dưỡng ( Hành khí đang tăng lên, như con được nuôi trong bụng mẹ )Tràng Sinh ( Hành khí được sinh ra, như trẻ con mới sinh, thời kỳ manh nha phát động của Hành )Mộc Dục ( Hành khí còn non yếu, như con còn ấu thơ, được tắm gội cho thật sạch, chân tay còn vô lực, không chống đỡ cầm giữ được gì cả, còn non yếu dễ chết, còn gọi là bại địa )Quan đới ( Hành khí đã lớn, như con đã lớn cho đội mũ )Lâm Quan ( Hành khí ở trong thời kỳ can đảm và mạnh mẽ, tràng vượng, con tăng trưởng được, như con trai đã trở thành người trẻ tuổi lớn khỏe đi làm quan, nên đương cần vị trí của Lâm Quan còn gọi là Lộc vị )Đế Vượng ( Hành khí vượng đến cực điểm, sắp sửa đi vào quy trình tiến độ suy, gọi là vượng địa )Suy ( Hành khí bước vào quy trình tiến độ mở màn suy yếu, là dư khí vì lúc đó khí thịnh của đế vượng vẫn còn sót lại )Bệnh ( Hành khí suy yếu lắm rồi, như già bị ốm đau )Tử ( chết, Hành khí tan )Mộ ( chôn vùi, tạo hoá thấu tàng, có dư khí, hồi quang phản chiếu )Tuyệt ( khí tuyệt, trọn vẹn hết không còn gì cả, còn gọi là tuyệt địa )Trong chu kỳ luân hồi trên, Hành khí có sức ảnh huởng đến ngoài đáng kể là Tràng Sinh, Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng và Mộ )Phân định ảnh huởng : trong chu kỳ luân hồi 12 trên thì chỉ có vị trí của Tràng Sinh, Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng và Mộ là có khí sức để hoàn toàn có thể ảnh hưởng tác động ra bên ngoàiPhân định Âm Dương :Thai, Dưỡng, Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan thuộc về Dương, huớng thịnh, theo chiều thuận .Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt thuộc Âm, huớng suy, theo chiều nghịch

Đặc điểm về cách an sao

Tràng Sinh luôn luôn được an tại Tứ Sinh là Dần Thân Tỵ Hợi địa thế căn cứ vào ngũ hành nạp âm của cụcĐào Hoa chỉ an tại Tí Ngọ Mão Dậu, Hoa Cái chỉ an tại Thìn Tuất Sửu Mùi, Thiên Mã tại Dần Thân Tỵ Hợi và Hoa Cái luôn luôn đứng trước Thiên Mã hai cung theo chiều thuận, ví dụ như Thiên Mã tai Tỵ thì cách một cung đến cung Mùi là Hoa Cái và Mệnh an giữa Thiên Mã và Hoa Cái gọi là cách tiền Cái hậu Mã. Nếu ta địa thế căn cứ vào ngũ hành của Tam Hợp cục tuổi để thuận an vòng Tràng Sinh của tam hợp tuổi ( Thủy khởi Tràng Sinh tại Thân, Mộc khởi tại Hợi, Hỏa khởi tại Dần, Kim khởi tại Tỵ ) thì Đào Hoa luôn luôn nằm tại vị trí Mộc Dục, Thiên Mã luôn luôn nằm tại vị trí Bệnh, Hoa Cái tại vị trí Mộ và Kiếp Sát tại vị trí Tuyệt của vòng Tràng Sinh này. Cần quan tâm sự tương đương dị biệt giữa Đào Hoa và Mộc Dục, Thiên Mã và Bệnh, Hoa Cái và Mộ, Kiếp Sát và Tuyệt

Đặc điểm về sự phối hợp

Tràng Sinh, Lâm Quan, Tuyệt, Bệnh dễ phối hợp với Thiên Mã, Cô Thần, Kiếp Sát vì các sao này luôn luôn an ở Tứ Sinh. Các sao còn lại thì ở vị trí còn lạiHoa Cái luôn luôn an tại Tứ Mộ ( Thìn Tuất Sửu Mùi ). Người Âm Nam Dương Nữ thì Mộc Dục cư tại Tứ Mộ nên có năng lực gặp bộ Mộc Dục Hoa Cái đồng cungĐào Hoa luôn luôn an tại Tứ Chính ( Tí Ngọ Mão Dậu ). Người Dương Nam, Âm Nữ thì Mộc Dục, Thai cư tại Tứ Chính nên có năng lực gặp bộ Mộc Dục Đào Hoa đồng cung hoặc Thai Đào đồng cung .Phục Binh và Tướng Quân xung chiếu với nhau thành ra bộ Thai Phục Tướng thì Thai phải đồng cung với Phục Binh hoặc Tướng QuânNgũ hànhTràng Sinh ( Thủy ), Mộc Dục ( Thủy ), Quan Đới ( Kim ), Lâm Quan ( Kim ), Đế Vượng ( Kim ), Suy ( Thủy, Kim ), Bệnh ( Hỏa ), Tử ( Hỏa ), Mộ ( Thổ ), Tuyệt ( Thổ ), Thai ( Thổ ), Dưỡng ( Mộc )Biểu tượngLâm Quan : cổĐế Vượng : sống lưngĐế Vượng Kình Đà hội họp : sống lưng có tậtThai : rốn hay âm hộ tử cungÝ nghĩaVòng Tràng Sinh miêu tả sự thịnh suy của ngũ hành cục. Sự thịnh suy này được miêu tả trải qua sự hưng thịnh hay suy trầm của cá thể cũng như của cha mẹ, đồng đội, vợ con, gia tộc, bè bạn về mọi mặt ( như phúc, lộc, thọ, niềm hạnh phúc ). Luận đoán các sao trong vòng Tràng Sinh thì cần quan tâm đến vị trí của sao này tại cung nào và địa thế căn cứ vào sự thịnh suy của ngũ hành cục cùng ý nghĩa của nó với sự tích hợp các sao khác. Nhiều người sử dụng phân loại vòng Tràng Sinh thành các tam hợp như Sinh Vượng Mộ, Mộc Suy Tuyệt, Đới Bệnh Thai, Lâm Tử Dưỡng nhưng theo thiển ý tất cả chúng ta không nên xét các sao của vòng Tràng Sinh trong tam hợp thì hài hòa và hợp lý hơn, ví dụ khi gặp Tràng Sinh tọa thủ tại cung thì khi coi cung này ta chỉ địa thế căn cứ vào Tràng Sinh mà luận đoán chứ không xét đến sao của vòng nằm trong tam hợp của Tràng Sinh là Mộ, Vượng hay xung chiếu là Bệnh hay nhị hợp là Lâm Quan hoặc Tuyệt. Như vậy cách Mã gặp Tràng Sinh có nghĩa là Mã và Tràng Sinh đồng cung, chứ không hề coi là Mã và Tràng Sinh xung chiếu vì trường hợp này là cách Mã BệnhVị trí tốt xấu của các sao thuộc vòng Tràng Sinh : nhìn chung từ Thai Dưỡng, Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng thì tốt hơn Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt .Cụ thể : Thai, Dưỡng : hành khí có tính năng khá tốtTràng Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng : hành khí hưng thịnh, có công dụng rất tốt, nhất là Tràng Sinh và Đế VượngMộc Dục, Quan Đới : hành khí cần phối hợp với sao tốt thì mới tốt, gặp sao xấu dễ đưa đến phúc lộc không bền, mau tàn, mang đến tai ương, nhất là Mộc Dục. Nơi Mộc Dục thủ thường gọi là bại địa. Phú có câu Sinh phùng bại địa phát dã hư hoa nghĩa là tuy phát nhưng không vững chắcSuy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt : hành khí không có công dụng tốt, xấu nhất là Tử, Tuyệt. Đỡ xấu nhất là Mộ vì là dư khíTại nơi có hành khí mạnh ( như Sinh, Vượng ) thì sẽ ngày càng tăng sự tốt đẹp về mọi mặt, có năng lực giảm bớt sự rủi ro xấu, tai ương do các sao xấu gây ra, còn tại nơi có hành khí yếu ( như Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt ) thì lại giảm bớt sự tốt đẹp do các sao tốt gây ra, tăng thêm sự xấu xa do các sao xấu gây ra, gặp sao xấu rất bất lợiSự tốt đẹp được biểu lộ trải qua :Thịnh vượng về tài lộc, công danh sự nghiệp, tuổi thọ, sức khoẻ, cuộc sống được an nhàn niềm hạnh phúc, con nhà quyền lựcAnh em đông, hòa thuận, xum họpCha mẹ thọ, được cha mẹ yêu quívợ chồng hòa thuận, có đức độCon cái đông, quí hiển, có danh chức, có hiếuHọ hàng đông, được hưởng phúc của tổ tiên, tổ tiên giàu sang

Sự xấu xa được thể hiện qua:

Cuộc đời thăng trầm, khổ cực, không hay gặp như mong muốn, làm ăn dễ thất bại, phá tán, sớm xa cách cha mẹ, sống xa quê nhà, cô độc, tình duyên lận đận, mái ấm gia đình bất hòa, sức khoẻ không tốt, hay bệnh hoạnAnh em ít, ly tánCha mẹ chết sớm hoặc không gần cha mẹ, hoặc cha mẹ ly hương vợ chồng xung khắc, không hòa thuận, vợ chồng chết sớm hoặc sinh ly, bị ruồng bỏ hoặcvợ chồng làm ăn không khá, phá tán gia tài của bản thân hoặc hay ốm đauCon cái ít, khó nuôi con nhất là con đầu lòng, khổ vì con, con hay đau ốm, con khó dạy, bất hiếu, con không giúp ích được cha mẹHọ hàng ít, ly tán, bạc phúcTùy theo cư tại cung nào mà ta luận đoán tích hợp với các sao, gặp tài tinh thì tương quan đến tài lộc, quí tinh thì tương quan đến chức vị công danh sự nghiệp, tại Phụ Mẫu thì tương quan đến cha mẹ …

Vài hướng dẫn về ảnh hưởng:

Sinh, Vượng thì chủ ngày càng tăng số lượng nhân đinh, thủ tại Tử thì chủ đồng con, tại Huynh Đệ thì đông bạn bè, tại Phu Thê thì có năng lực nhiều vợ, tại Nô Bộc thì nhiều bè bạn, người giúp việc trong khi Tử, Tuyệt thì chủ chiết giảm số lượng nhân đinhSinh, Vượng thì mạnh khoẻ, ít đau yếu, ít bệnh tật tai ương, sống lâu trong khi Tử Tuyệt thì hay đau yếu, gặp tai nạn thương tâm khó thoát, không thọSinh, Vượng thì chủ ngày càng tăng phúc lộc, đi với tài tinh thì ngày càng tăng tài lộc, đi với quí tinh thì ngày càng tăng quí hiển trong khi Tử, Tuyệt thì chủ chiết giảm phúc lộc, đi với tài tinh hoặc quí tinh thì chiết giảm tài lộc, công danh sự nghiệpSinh Vượng gặp hung sát tinh thì giảm bớt tác họa của hung sát tinh ( ví dụ bị bệnh thay vì chết nhưng giảm xuống thành ra bệnh lâu khỏi, tai ương nặng thành nhẹ đi ) trong khi Tử Tuyệt tăng phần tác họa do hung sát tinh gây raLộc Tồn gặp Trường Sinh, Đế Vượng thì phúc lộc ngày càng tăng, Lộc Tồn gặp Mộc Dục Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt thì phúc lộc giảmKhôi Việt gặp Tràng Sinh, Đế Vượng thì ngày càng tăng phúc, rất ít bệnh tật, Gặp Lâm Quan thì giỏi văn chương, gặp Mộc Dục Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt thì giảm tốt, giảm phúc

LUẬN VỀ TRÀNG SINH: Tràng Sinh là giai đoạn mở đầu của nhân sinh. Nó không phải là giai đoạn mà sinh mệnh lực mạnh mẽ nhất, nhưng lại là giai đoạn mà sinh mệnh lực nung đúc chứa chất đầy đặn nhất. Cung nào trong lá số có sao Tràng Sinh thì trường cửu, tích lũy và đầy đặn. Như Mệnh cung gặp Tràng Sinh thì sinh mệnh lực mạnh mẽ, cung Huynh Đệ có Tràng Sinh thì anh em thân thiết đắc địa, bạn bè tri kỷ, cung Phụ Mẫu có Tràng Sinh thì được hưởng phúc lộc mẹ cha, sự giúp đỡ của quí nhân; Tràng Sinh vào cung Tài Bạch thì tài sản tích tụ…

Chỉ duy có Mã gặp Tràng Sinh thì khó khăn vất vả ngược xuôi vì Thiên Mã chủ “ động ” nên mới có câu phú : Mã ngộ Tràng Sinh chung thân bôn tẩu. Hoặc Mã hoặc Tràng Sinh vừa đủ, cả Mã lẫn Tràng sinh là thái quá .Chủ vững chắc, lâu dài hơn ( TTL ), thịnh vượng, tăng tiến, phát đạt, trường cửu, phúc thọ, niềm hạnh phúc, được trọng vọngGia tăng phúc thọ, quyền lợi cho việc sinh nở ( TTL )Tràng Sinh thủ Mệnh thì :Nhân hậu, từ thiện, độ lượng ( TTL )Lộc Tồn phong phú về sau, Trường Sinh, Đế Vượng là người thiện lươngKhoe khoang là thói Lầm Quan, Tràng Sinh, Đế Vượng tính toan làm lànhHợp cách hội với cát tinh thì mái ấm gia đình tăng tiến tài lộc, con trưởng phát văn học, phú quí, tính trung lương, phúc thọ vĩnh viễn ( VVT )Hội với Không vong, ác sát thì mái ấm gia đình tổn hại, phải đề phòng tai biến, vợ cả là người vô hậu, phải có vợ lẽ mới có con được ( AB258 )Trường Sinh Tọa tại Mệnh thì chủ có tài, sớm hiển đạt, vợ chồng có đức, được cha mẹ yêu quí, bạn bè thân thiện, con cháu tốt, ăn ở được mọi người quí mến, về già làm ăn phát đạt, an nhàn, suôt đời niềm hạnh phúc. Nữ Mệnh thì suốt đời niềm hạnh phúc, con cháu tốt, về già an nhàn ( TMT )Tại Tử Tức thì con cháu hiển đạt làm rạng rỡ cho tổ tôngTại Phụ Mẫu thì cha mẹ bạn bè hòa thuận, xum họpTại Phúc thì tổ tiên giàu sang, được hưởng phúc đức do cha ông để lạiLộc Tồn gặp Trường Sinh, Đế Vượng thì phúc lộc ngày càng tăng, Lộc Tồn gặp Mộc Dục Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt thì phúc lộc giảmKhôi Việt gặp Tràng Sinh, Đế Vượng thì ngày càng tăng phúc, rất ít bệnh tật, Gặp Lâm Quan thì giỏi văn chương, gặp Mộc Dục Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt thì giảm tốt, giảm phúcHội với Tham Lang là hợp cách nhất, chủ ích thọ phúc lộc ( VVT )Tại Tật Ách gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội họp thì ( tuy giải trừ được phần nào sự xấu xa không đưa đến tai ương nặng như chết chóc thành ra mang ý nghĩa ) có bệnh tật, đau yếu lâu khỏi ( TTL )Thiên Mã Tràng sinh đồng cung thì hưởng phúc lâu bền, nhưng nếu tại Hợi thì khó khăn vất vả, dạt dẹo. Theo Thái Thứ Lang thì Mã Tràng Sinh tại Dần Thân Tỵ thì làm cho mọi sự thuận tiện, chóng thành tựu, đem lại suôn sẻ đáng mừng, chủ công danh quyền thế, tại Hợi thì khó khăn vất vả và không lợi cho việc cầu sự nghiệp, chủ trắc trở :Mã ngộ Trường Sinh nhi hưởng phúc ( 19 )Thiên Mã thiên trình ngộ Tràng Sinh nhi hưởng phúc ( B77 )Mã Tràng Sinh đồng cung tại Hợi là người phải hay dạt dẹo lận đận :Tràng Sinh tại Hợi, Tuyệt xứ phùng sinh, nhi phùng Thiên Mã lộ đồ bôn tẩu ( 40 )Tràng Sinh Mã Hỉ hội họp thì gặp như mong muốn về sự nghiệp. Chú ý câu này hơi khác câu trước ở chỗ có sao Hỉ, đây là yếu tố hiểu phú có khác nhau vì câu Mã Hỉ Tràng Sinh thì có người giải Hỉ là mừng gặp, có người lại giải Hỉ là sao Hỉ ) :Một áng có Tràng Sinh Mã Hỉ, Đường mây xanh phỉ chí bồng tang ( B113 )Tràng Sinh, Mã, Hỉ đồng cung, Công danh đắc lộ, vẫy vùng một phương ( HC 152 )Trường Sinh, Lực Sĩ nói ngoan ,Phủ phùng Thiên Mã luận bàn thấp caoTử Tức có Tràng Sinh, Đế Vượng thì nhiều con cháu. Giáp Nhật Nguyệt có thai thì có lần sinh đôi. Theo Quản Xuân Thịnh thì giáp Nhật Nguyệt thì có lần sinh đôi :Tràng Sinh Đế Vượng đa nhân ( nhiều con cháu ), giáp Thai Nhật Nguyệt một lần sinh đôi ( 42 )Tràng Sinh, Đế Vượng đa nhân, Giáp Thai Nhật Nguyệt một lần sinh đôi ( B42 )Tràng Sinh, Đế Vượng đa nhân, Giáp chiếu Nhật Nguyệt có lần sinh đôi ( QXT )Cung Tử Tức có Tràng Sinh hay Đế Vượng gặp Lộc Quyền chiếu thì sinh nhiều con ( do Tràng Sinh hay Đế Vượng ), có tài, làm ra, quí hiển ( do Tràng Sinh hay Đế Vượng gặp Lộc, Quyền ) :Tràng Sinh, Đế Vượng tại Tử cung, Lộc Quyền chiếu cung đa sinh quí tử ( 41 )

TRÀNG SINH VỚI CHÍNH TINH

Mệnh Tử Phủ gặp Tràng Sinh hay Đế Vượng đồng cung thì là người quảng đại, không chấp nhất chuyện nhỏ nhen :Tràng Sinh Đế Vượng tại Mệnh viên, kiêm phùng Tử Phủ quảng đại chi nhân ( 39 )tử vi Thất Sát tại cung Tỵ thì ví như vua mang kiếm báu tất yếu có uy quyền và phú quí, gặp Hỏa Tinh, Tuyệt hội họp thì người khát máu, tàn ác, hay giết người, nhưng nếu gặp Bật Khoa Ấn Mã Tràng Sinh, Hồng Loan thì lập được chiến công thần kỳ, là Ðại TướngSát Tử ( tử vi Thất Sát ) Tốn cung ( cung Tỵ ) Ðế huề bảo kiếm, Hỏa Tuyệt nhập xâm, đa sát chi nhân, hạnh ngộ Bật Khoa Mã Ấn Sinh Hồng di lập chiến công vi Ðại Tướng ( TTL )Thái Vân Trình thì viết khác một chút ít, thay vì Hữu Bật thì là Bát Tọa :Tử Sát Tốn cung ( cung Tỵ ), đế huề bảo kiếm ( vua đeo kiếm báu ), Hỏa Tuyệt nhập xâm đa sát chi nhân, hạnh hội Hồng Khoa, Ấn ( Quốc Ấn ), Mã, Bát ( Bát Tọa ), Sinh ( Tràng Sinh ), dị lập chiến công vi Đại Tướng ( 66 )Tham Lang Trường Sinh đồng cung gặp cát tinh sống rất lâu. Theo TVT thì tuổi Dần Ngọ Tuất mạng Hỏa, Mệnh an tại Dần thuộc Mộc hoặc an tại Thân thuộc Kim được cách trường thọ, nếu thêm Trường Sinh được phúc thọ :Tham Lang gia cát ( cát tinh ) tọa Trường Sinh thọ khảo vĩnh như Bành Tổ ( 16, TTL ) ( 16 )Cung Phúc có Thiên Lương Trường Sinh đồng cung thì trong họ hàng có nhiều người có biệt tài. Vì Tràng Sinh chỉ ở Tứ Sinh nên đây là trường hợp Đồng Lương Dần Thân hoặc Thiên Lương tại Tỵ Hợi :Thiên Lương hội Trường Sinh ư Phúc địa ( cung Phúc ), thân thương hữu kỳ tài ( 21 )Cung Phúc tại Dậu gặp Thiên Tướng, Tướng Quân, Thiên Hình, Quyền, Hổ Khốc, Tràng Sinh, Mã thì theo võ nghiệp làm đến quyền chức cao trọng, làm đến Hầu, Bá nhưng sợ gặp Hóa Kỵ, Linh Tính, Khúc, Việt thì chết trậnPhúc cư Ðoài ( cung Dậu ), Lưỡng Tướng ( Thiên Tướng, Tướng Quân ) Hình ( Thiên Hình ) Quyền, Hổ Khốc, Sinh ( Tràng Sinh ) Mã giao lai võ cách phát liên Hầu Bá ưu kiến ( sợ gặp ) Kỵ ( Hóa Kỵ ) Linh ( Linh Tính ) Khúc, Việt tất hữu tử thương trận địa ( thì chết trận ) ( 14 )Thiên Tướng tại Mão gặp Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương hội họp thì mặt xinh đẹp mà võ nghệ rất giỏi, hạn gặp Phá Ðà Kình thì như Lã Bố vi dâm ô mà chết :Tướng lâm Chấn địa ( cung Mão ) Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương diện hoa vũ bá ( mặt xinh đẹp mà võ nghệ rất giỏi ) vận phùng ( hạn gặp ) Phá Ðà Kình Kiếp Lã Bố do dâm mãn kiếp ( Lã Bố vi dâm ô mà chết )

Mọi Người Cũng Xem   Cách Tính Diện Tích Mái Tôn Vòm Đúng Chuẩn Chính Xác Nhất

LUẬN VỀ MỘC DỤC (Hành Thủy): Mộc Dục là giai đoạn thứ hai của nhân sinh. Người sinh ra trước hết cần tắm rửa cho sạch đi những huyết ô của bào thai. Tính chất Mộc Dục tiếp tục là tích lũy, nhưng lại đoán định qua tác dụng đào hoa. Khi Mộc Dục đi theo chiều thuận của Tràng Sinh thì sẽ nằm ở Tí Ngọ Mão Dậu mà cặp với sao Đào Hoa ở độ làm thành cách Đào Hoa Mộc Dục. Nếu theo chiều ngược Mộc Dục sẽ nằm ở Thìn Tuất Sửu Mùi không gặp sao Đào hoa nữa. Đào Hoa đứng bên Mộc Dục tính dục vượng thịnh hẳn đến độ dâm đãng.

Như vậy thì Tràng Sinh phải có chiều nghịch chiều thuận chứ không hề chỉ một chiều thuận, cứ theo chiều thuận không thôi thì Đào Hoa luôn luôn gặp Mộc Dục đàn bà con gái thành mất nết hết còn gì. Mộc Dục vào Thìn Tuất Sửu Mùi chất đào hoa của nó bị triệt tiêu .Mộc Dục không phải là chính đào hoa chỉ coi như thiên đào hoa thôi, vì thế chất đào hoa của nó có phần vô lương, bất chính .Mộc Dục gặp Lộc Tồn Hóa Lộc thì chất đào hoa biến thành tài lộc khả dĩ nhờ người khác phái mà phấn phát. Tỉ dụ nam mạng Mộc Dục gặp Lộc đi kinh doanh quần áo phấn son hoặc làm ca kịch sĩ … rất hợp .Mộc Dục gặp Đào Hoa, Thiên Riêu, Thiên Hình, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì chỉ tăng trưởng chất đào hoa mà thôi. Mộc Dục gặp Xương Khúc Hóa Kị vì tình mà hết nghiệp. Mộc Dục gặp Tham Lang Hóa Kị trăng hoa chim vợ cướp chồng. Mộc Dục đứng với Long Trì cẩn trọng tai nạn đáng tiếc sông nước. Mộc Dục đứng ở Mệnh cung vô chính diệu thì học tập dở dang. Mộc Dục gặp Đào Riêu Hoa Cái là người đam mê sắc dục .Chủ sự tắm gội, ưa làm dáng, đi xa ( VTT, TTL ), hay biến hóa, canh cải, chán nản, bỏ lỡ việc làm, dâm dật, u mê, nhầm lẫn ( TTL ), lao khổ, mê hoặc, vì vẻ đẹp mà gặp tai nạn đáng tiếc, tình duyên trắc trở, đứt gánh nửa đường, không cả quyết, không quyết định hành động việc gì, đổi khác chỗ ởCần quan tâm rằng Đào Hoa là vị trí của Mộc Dục an theo vòng Trường Sinh của tam hợp cục tuổi. Mộc Dục và Đào Hoa đều có ý nghĩa xinh đẹp, đa dâm nhưng có điểm độc lạ là Mộc Dục còn cư tại Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi. Mộc Dục mang đặc thù dâm thành ra hội cùng các dâm tinh khác ( như Đào, Hồng, Xương, Khúc, Riêu, Tham Lang, Liêm hãm ) hay Hoa Cái thì ý nghĩa càng mạnh. Vì hành khí chưa mạnh thành ra cả Mộc Dục và Đào Hoa khi gặp hung sát tinh, nhất là Không Kiếp thì không có lợi, chủ sự không vững chắc, mau tàn. Theo VVT thì Mộc Dục gặp Đào Hoa thì con gái trong nhà dâm loạn, trong mái ấm gia đình phòng thủy tai, tự tử, bệnh đau mắt, đới tật. Theo Thái Thứ Lang thì gặp Đào, Hồng, Riêu, Cái thì chủ bệnh tật tai ương do sắc dục gây raMiếu địa tại Tí Ngọ ( VVT )Hợp cách khi ở Mệnh, Thân, Điền, Tài ( VVT )Đồng cung với Văn Khúc là hợp cách, chủ chức quyền, tài lộc hanh thông ( VVT )Mệnh Vô Chính Diệu gặp Mộc Dục tọa thủ hoặc xung chiếu thì hay bỏ lỡ việc làm, học tập gián đoạn, dù có học nhiều cũng không thành tài ( TTL )Mộc Dục thủ Mệnh thì hay trưng diện, làm dáng :Mộc tinh ( Mộc Dục ) làm dáng ai bì, Hay khoe mình cũng do tại Lâm QuanMộ ám tế, Thai đa ( nhiều ) mê hoặc, Mộc Dục hay trang sức đẹp văn hoa ( hay chưng diện )Tại Mệnh thì không gần cha mẹ lúc nhỏ, lao khổ, không được hưởng của cha mẹ tổ tiên để lại, mẹ chết sớm, khó lập mái ấm gia đình, phải tha hương lập nghiệp. Làm ăn dễ thất bại, hay gặp sự không may, suốt đời dễ bất mãn, dễ sống cô độc, khắc vợ con, đàn bà thì phá hại tiền của, hại chồng con, con đầu lòng khó nuôi. Tại Thân thì làm ăn lao đao, về già suy bại, bần hàn hoặc vợ chồng sinh ly tử biệtGặp sát tinh thì xa xỉ, hiếu sắc, không sáng suốt, hay thiên vị, dễ xa cách cha mẹ đồng độiTại Tử thì con cháu ít, khổ vì con, nếu không con đầu lòng khó nuôi hoặc mất sớmTại Phụ Mẫu thì cha mẹ bỏ cố hương, sống tha phương cầu thựcKình gặp Mộc Dục thì mắc bệnh hiểm nghèo khó chữaĐào Hoa gặp Mộc Dục thì nhan sắc mỹ lệ nhưng hiếu sắcTại Phu Thê rất kỵ Không Vong ( VVT )Tại Phúc Đức hay Tử Tức gặp Hỉ Thần thì ví như cái chậu tắm cho quí tử, sinh con mưu trí, thần đồng ( VVT )NMB lý giải Mệnh có Mộc Dục thủ thì có khiếu về nghề thợ rèn, TVT giải Mệnh có Mộc Dục thủ thì thích làm dáng chưng diện. Theo TTL thì Mệnh có Mộc Dục tọa thủ, nếu không gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp thì tất chuyên về công nghệ tiên tiến, hoặc làm thợ rèn :Mộc Dục liệt thủ chỉ hiếu dã dong ( 8, B58 )Mộc Dục độc thủ chi hảo dã dong ( 11 )Mệnh Mộc Dục thì tính tình lẳng lơ, không đoan chính, gặp thêm Hoa Cái đồng cung hoặc Thiên Riêu, Hoa Cái thì rất dâm dật, hoang dâm :Đồng ( Thiên Đồng ) nhập Mệnh tính hay đổi khác ,Mộc ( Mộc Dục ) cư viên quen thói trai lơ ( lẳng lơ ) ( B113 )Mộc Dục Hoa Cái thủ Mệnh hoang dâm ( 9 )Cái ngộ Mộc ( Mộc Dục ) gái nào đoan chính, Mã ngộ Không là tính phiêu bồngTấu Thư Hoa Cái thanh kỳ, Mộc ( Mộc Dục ) Riêu Hoa Cái ắt thì dâm bônThiên Tướng gặp Văn Khúc, Mộc Dục hội cùng Hoa Cái hoặc Ðào Hoa thì xinh đẹp nhưng đa tình, dâm. Chú ý Hoa Cái và Đào Hoa thì không khi nào hội họp :Tướng ngộ Cái ( Hoa Cái ) Ðào ( Ðào Hoa ) Khúc ( Văn Khúc ) Mộc ( Mộc Dục ) thuần tước dâm phong ( 11, TTL )Tướng và Khúc hội Đào, Mộc, Cái, Sắc khuynh thành nhưng rất dâm bôn ( AB326 )Thiên Tướng gặp Khúc Cái Mộc Đào, Vốn là phúc trọng, tính âu đa tình ( HC 76 )Mệnh Thanh Long tọa thủ gặp Mộc Dục thì được tiếng tốtThanh Long vạn phái thừa Mộc Dục dĩ thanh quang ( 1, B77 )Bộ Mã Lộc rất tốt đẹp nhưng nếu bị Tuần Triệt hay gặp Tuyệt đồng cung hoặc Mộc Dục tam chiếu thì lại không còn tốt đẹp, nếu phong phú thì chết sớm nhưng nếu nghèo hèn thì lại sống lâu. Sự không tốt đẹp hầu hết do Mã gặp Tuyệt hoặc Mộc Dục gây ra :Mã, Lộc hãm Không Vong Tuyệt Bại ,Sợ Kiếp Không hợp Thái Tuế xungGiầu tổn thọ, khó duyên sinh ,Phù Thân giúp Mệnh hạn hành khác nhau ( B158 )Lộc Mã ngộ Bại, Tuyệt hương ( ở Bại Địa, Tuyệt Địa )Tuế ngộ Không Kiếp là phương không lành ( B171 )Cung Tật Ách có Mộc Dục tọa thủ thì không nên gần giếng ao sông bị chết đuối. Có người cho rằng đây là trường hợp Mộc Dục gặp Long Trì :Làng có giếng không chẳng uống, sao Mộc tinh chiếu xuống tật cung ( 10 )Làng có giếng bỏ không chẳng uống, Sao Mộc tinh chiếu xuống ( đóng ở ) Tật cung ( B15, VT )Gần miền có giếng bỏ không, Mộc Trì ( Long Trì ) hẳn chiếu Tật cung phương Đoài ( B105 )Hạn gặp Hỏa Linh, Long Trì, Mộc Dục hội họp thì đề phòng đề phòng tai nạn đáng tiếc về lửa và nước sôi. Thiết tưởng Mộc Dục thủ gặp Long Trì, Hỏa hay Linh, thì mới có ý nghĩa này :Hỏa Linh Long Mộc ( Mộc Dục ) một nhà, Lánh mình lửa cháy cùng là nước sôiHỏa Linh Long Mộc ( Mộc Dục ) sáng soi, Lánh mình lửa cháy nước sôi chớ gầnHỏa, Trì ( Long Trì ) Mộc Dục thấy liền, Nước sôi lửa cháy phải khuyên giữ mình ( B111 )Hỏa Linh Trì Mộc sáng soi, lánh mình lửa cháy, nước sôi chớ gần ( 8 )Tuổi già hạn có Riêu Tướng Mộc Dục Kình Khoa Sát thì gái trai dâm đãng như Võ Hậu. TVT cho rằng Sát là sát tinh và Tướng là Tướng Quân hay Thiên TướngRiêu Tướng Mộc ( Mộc Dục ) Kình Khoa Sát lão hạn dị tắc dâm loạn Võ Hậu

LUẬN VỀ QUAN ĐỚI (Hành Kim): Quan Đới là đệ tam giai đoạn bắt đầu trưởng thành, quan đới nghĩa đen là mũ mão thắt lưng. Khi luận đoán thì Quan Đới là sự trưởng thành, đứng cung nào đều mang tính chất chín chắn, phát triển.

Quan Đới vào Quan Lộc tượng trưng cho kỳ vọng tăng trưởng sự nghiệp, vào cung Phúc Đức là đầu óc tư tưởng đã thành thục. Quan Đới đứng với các sao Không và Hoa Cái là có khuynh hướng triết lý .Quan Đới vào các cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc trợ giúp cho các sao tốt đã sẵn có ở các cung này. Quan Đới gặp Long Trì Phượng Các, Thiên Tài, Văn Xương, Văn Khúc thì ngày càng tăng mưu trí và tài nghệ .Quan Đới đứng với Thái Tuế, Địa Kiếp lại thành ra gia nhân nhà quyền thế. Quan Đới gặpnhiều sát bại tinh biến thành cái tròng lọng, hay một sợi dây câu thúc vì công danh sự nghiệp mà khổ .Quan Đới Hồng Loan hình tượng là giây thừng thắt cổChủ chức vị, quyền thế, ham thích công danh sự nghiệp ( TTL ), quyền binh, mũ mão, cân đai, ý bố ( VVT ), thịnh vượng, tăng trưởng, thành công xuất sắc, có danh vọng, có uy nghiêm, được tôn kính, có đức độ từ bi ( TMT )Gặp Văn Xương là đắc cách nhất ( VVT )Gặp Tử Phủ, Phá Quân, Thất Sát, Thanh Long thì hợp cách, là người văn chương thi phú từ lúc còn nhỏ tuổi ( VVT )Thủ Mệnh thì văn chương, công danh sự nghiệp hiển đạt, khi nào cũng cẩn trọng về y phục ( VVT )Gặp nhiều sao mờ ám xấu xa thì gây rắc rối, phiền nhiẽu, ngăn trở mọi việc làm. Gặp nhiều sát tinh, bại tinh thì ví như sợi giây thắt cổ, chủ sự trói buộc, tự tử ( TTL )Kỵ gặp Hỏa, Linh chủ dâm đãng, tửu sắc tới lúc về già cũng còn vương vấn, nhiều duyên nợ đoạn trường, ưa thích bài bạc và hay mắc chứng đàm nhiệt ( AB259 )Lúc nhỏ không được suôn sẻ, khó khăn vất vả nhưng từ trung vận trên 40 tuổi thì gặp vận may, càng về già càng huởng phúcGặp Nguyệt Đức hay Thiên Đức thì có từ tâm, có năng lực, đối xử đồng đội rất tốt, trong xã hội được nhiều người tôn kínhGặp sát tinh không sao tốt cứu giải thì hay thao tác bất chính, đầu tư mạnh tích trữ, khinh đời rồi bị phá gia bại sản, mang tiếng xấu cho cả mái ấm gia đìnhNữ Mệnh thì dung mạo đoan chính, lấy được chồng tốt nhưng nếu gặp sao xấu thì vợ chồng sớm xa cáchTại Tử thì con cháu làm ăn ngày càng phát đạt thịnh vượngNMB giải rằng Mệnh có Thanh Long gặp Quan Đới thì là người hiên ngang ở ngoài đời cũng như trong triều đìnhLong ( Thanh Long ) cốt liên Quan ( Quan Đới ), hiên ngang lăng miếu

LUẬN VỀ LÂM QUAN (Hành Kim): Lâm Quan là giai đoạn thứ tư, khi đã trưởng thành rồi tất phải ra đời phấn đấu, xã hội xưa việc xuất sĩ được gọi là lâm quan (ra làm quan) phục vụ. Lâm Quan gặp Đào Hoa thì ưa phục vụ người khác phái, công việc liên quan với người khác phái đưa đến phát đạt.

Thất Sát Phá Quân đứng với Lâm Quan tạo thành tâm ý thích làm nhiều công chuyện khác, lắm nghề. Lâm Quan gặp Thiên Cơ Thiên Đồng thì việc làm thường bị đổi khác. Lâm Quan gặp được Khôi Việt là người có chức vụ tương đối cao. Lâm Quan có tính hay khoe khoang và ăn nói kiêu ngạo. Lâm Quan gặp các hung sát tinh dễ rắc rối phiền lụy vì việc làm chức vụ .Tượng thân thể là cái cổ, thủ Mệnh thì là ngưới có cổ cao và to ( VVT )Chủ sớm làm quan, được ra vào nơi quyền quí, là tham mưu phụ tá co các người có quyền chức cao ( VVT ), thịnh phát, danh vọng, tài lộc phong phú, vẻ vang, sống lâu, lương thiện, cung kính, khiêm nhường, hùng vĩGặp nhiêu sao sáng sủa tốt đẹp thì chủ phát đạt, vui tươi ( TTL )Gặp nhiều sao mờ ám xấu xa thì chủ sự phiền nhiễu, ngăn trở mọi việc làm ( TTL )Hội với Lộc là hợp cách ( VVT )Hội với Vũ Khúc là tốt nhất, đệ nhất cách của Lâm quan vì cùng hành Kim, sẽ gặp được nhiều thời cơ suôn sẻ tốt đẹp ( VVT )Tối kỵ đồng cung với Hỏa Linh là hãm phá, thường bị chảy máu cam, xuất huyết, đứt mạnh máu hoặc đàm nhiệt. Lạc Hỏa Linh thì vợ chồng xung khắc, vợ không được chồng thương mến, sống hẩm hiu, đây là cách của vợ thứ ( VVT )Đồng cung với Địa Kiếp là bị bệnh tại cổ họng hoặc có thịt dư tại cổ họng ( VVT )Hạn mà có Lâm Quan gặp Không Kiêp Hỏa Linh thì phải đề phòng các chứng bệnh kể trên, mái ấm gia đình tổn hại tài lộc và vợ thứ sẽ mắc nhiều tai ương ( VVT )Thủ Mệnh thìKhoe khoang, thích làm dáng, điệu bộ, nói năng phong thái ( TTL )Có đức độ, thân ái với tổng thể mọi ngườiCó tài văn học nhưng khi phát đạt vợ thường chết sớmSự nghiệp thịnh vượng, gần về già thì hiển đạtThay con trưởng thừa kế tổ nghiêp, hoặc làm con nuôi người khác để hưởng di sản của họGia tăng tính tửu sắcNữ Mệnh nếu là vợ chính thì thường phá vận tốt của chồng, nếu làm lẽ thì sau sẽ đoạt làm chínhTại Tử thì con cháu hiển đạtLâm Quan thủ Mệnh thì tính hay khoe khoang :Mộc tinh ( Mộc Dục ) làm dáng ai bì, Hay khoe mình cũng chính bới Lâm QuanKhoe khoang là thói Lâm Quan, Tràng Sinh, Đế Vượng tính toan làm lành

LUẬN VỀ ĐẾ VƯỢNG (Hành Kim): Đế Vượng là giai đoạn cực thịnh của sinh mệnh lực, nó đã lên đến tối cao điểm và khi đến đây rồi thì chỉ còn một nước tiếp theo là suy thoái. Khỏe nhất mà cũng nhiều nguy cơ hơn hết.

Đế Vượng vào cung Quan Lộc tốt nhất, nếu có thêm Tả Hữu càng hay. Đế Vượng đứng với Tham Lang Hỏa Tinh, Linh Tinh bạo phát, bạo tàn. tử vi có Đế Vượng tăng hẳn sự tôn quí. Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm cũng vậy, với điều kiện kèm theo Thái Dương đắc địa cho người sinh ngày, Thái Âm đắc địa cho người sinh đêm và Thiên Phủ miếu vượng có Đế Vượng năng lực chỉ huy tăng lên .Tượng thân thể là cái sống lưng ( VVT )Thủ Mệnh là người có sống lưng dài và cường tráng, gặp Hình thì sống lưng gù, gặp Kiếp thì sống lưng bị mắc mụn nhọt ( VVT )Chủ sự sinh sản nhiều và mau chóng, thịnh đạt ( TTL ), thịnh vượng, danh vọng, uy quyền, mưu trí, tài học, độc lậpGia tăng phúc thọ, giải trừ bệnh tật, tai ương, quyền lợi cho cầu sự nghiệp, quyền thế, tài lộcHợp với sao Vũ Khúc nhất. Đồng cung với Vũ Khúc thì nhà cửa, ruộng vườn cao sang, danh vọng hiển quí ( VVT )Hội với Tử Phủ, Vũ Khúc, Tả Hữu thì là người có mưu trí, có tài lãnh đao. tổ chức triển khaiGặp Không Kiếp thì ruộng vườn tiêu tan, tổ nghiệp không giữ được, vợ thứ hoặc con út sẽ bị hạn họa ( VVT )Hạn gặp Vượng hội cát tinh thì mua nhà của đất đai, có thêm vợ, bé, sinh con đẻ cái, gặp nhiều như mong muốn nhưng nếu gặp Không Kiếp Hỏa Linh thì là triệu chứng vợ bé và con út gặp hạn họa, tài lộc bị hao tán ( VVT )Uy nghi, đường bệ, vui tươi, nhân hậu, từ thiện ( TTL )Nghiêm trang, không chịu khuất phục, cương cường, quật cườngCó tính độc lậpNhiều tự áiCó mưu trí, nhất là khi gặp Kình DươngLà con nhà quyền lực lương thiện, có danh vọngĐào Hoa gặp Đế Vượng thì dung nhan xinh xắn, ham tửu sắc, chơi bời, không lo làm ănMệnh Thân có Vượng thủ gặp tử vi đồng cung thì có tài chỉ huy ( TTL )Tại Tử Tức con cháu có danh vọngTại Phu Thê thì vợ chồng hòa thuận, nhà đạo ấm cúng, con cháu đầy đàn, vui tươi, hiếu thuận, bà vợ nào cũng đảm đang ( VVT )Khôi Vượng đồng cung thì có nhiều nốt ruồi :Khôi ngộ Kỵ trên đầu có tật ,Vượng ( Đế Vượng ) ngộ Khôi thật lắm nốt ruồi ( B46 )Cung Huynh Đệ có Đế Vượng gặp Thai và Tướng Quân hội họp thì có bạn bè cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Chú ý Đế Vượng và Thai luôn xung chiếu với nhau :Đế Vượng ngộ Thai soi cùng Tướng, có dị bào trong áng đệ huynh ( 25 )Đế Vượng ngộ Thai soi cùng Tướng ( Tướng Quân ), Có dị bào trong áng Đệ Huynh ( hai đám bạn bè ) ( B42 )Mệnh có Tử Tướng tại Thìn Tuất, Thân có Phá Quân gặp Đế Vượng Kình Dương thì có nhiều mưu mẹo ( do Đế Vượng Kình Dương ), gian hùng và xảo quyệt ( do Phá Quân )tử vi Thiên Tướng, Thân phùng Phá ( cung Thân, đối lại là cung Mệnh, có Phá Quân ), kiêm ngộ Vượng ( Đế Vượng ) Kình đa mưu yếm trá ( 52, TTL )Tham Lang tại Hợi và Tí gặp Quyền Vượng thì chuyển xấu thành tốt, trở nên ngay thật trung hậu giữ lời hứa thay vì là người gian dối, tuổi Giáp Kỷ giàu sang và có danh vọng toàn vẹn. Chú ý tuổi Giáp Liêm Tham tại Tỵ có Khoa Quyền Lộc Song Hao Khôi Thiên Phúc Lưu Hà Đà hãm, tại Hợi thì có Khoa Quyền Lộc Song Hao Thiên Quan Thiên Việt Đường Phù, Kình cư Mão. Tuổi Kỷ Liêm Tham tại Tỵ có Quyền Hóa Lộc Đà đắc, Thiên Quan Hao LNVT và tại Hợi có Quyền Hóa Lộc Đường Phù Hao, Kình Đà đắc :Tham Lang Hợi Tí, hạnh phùng Quyền Vượng, biến hư thành thực, ư Giáp Kỷ tuế phú danh viên mãn ( 25, TTL )Thiên Tướng tại Mão gặp Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương hội họp thì mặt xinh đẹp mà võ nghệ rất giỏi, hạn gặp Phá Ðà Kình thì như Lã Bố vi dâm ô mà chết :Tướng lâm Chấn địa ( cung Mão ) Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương diện hoa vũ bá ( mặt xinh đẹp mà võ nghệ rất giỏi ) vận phùng ( hạn gặp ) Phá Ðà Kình Kiếp Lã Bố do dâm mãn kiếp ( Lã Bố vi dâm ô mà chết )

LUẬN VỀ SUY – Hành Thủy (TTL), Kim (VVT): Đây là giai đoạn của sinh mệnh lực chuyển từ vượng đến nhược. Nó vào cung Phụ Mẫu khiến cho quan hệ thân thiết với cha mẹ thành nhạt xa. Vào Mệnh Thân cung thì chí phấn đấu không bền. Vào Tài Bạch cung thiếu lòng tự tin. Vào Quan Lộc không hăng hái với việc lập công danh, an phận. Suy lưu niên, lưu nguyệt tác dụng mạnh hơn Suy cố định trên lá số.

Suy đóng cung Phúc Đức dòng họ phân ly sơ tán .Suy mà đóng vào Mệnh Thân cũng làm cho con người cùn nhụt chí phấn đấu thao tác đầu voi đuôi chuột. Vào cung Tài Bạch thì cái tự tín tâm kiếm tiền thiếu can đảm và mạnh mẽ không hề kinh doanh thương mại kinh doanh. Vào cung Quan Lộc cung chuyện công danh sự nghiệp quyền chức dễ bị đẩy qua thế yếu .Chủ sa sút, suy bại, không thịnh đạt ( TTL, VVT ), yếu ớt, hèn kém ( TTL ), ôn thuận, đạm bạc, yếu ớt, niềm tin suy nhược, bất định, phá tán gia tài, tai ách, lỡ duyên ( TMT )Suy là sắc tía, tượng huy hiệu và bố tử của các bộ triều phục ( quần áo mặc khi vào triều ) ( VVT )Chủ về mỹ thuật, nhất là ngành ca vũ, hội với Lộc Tồn là những vũ công danh tài, hội thêm Song Lộc là cách phú túc, tài lộc cự vạn ( VVT )Suy tại Thìn Tuất hội với Cự Môn là đắc cách nhất ( VVT )Đồng cung với Tử Phủ ví như quần áo có thêu hoa cho đẹp tươi hơn, thiếu niên có tài về văn chương và phú túc ( VVT )Suy hội với Cơ, Lương hãm địa gặp Hỏa Linh, Không Kiếp thì làm nghề trộm cắp, móc túi rất lợi hại, nếu hạn mà gặp thì phải đề phòng bị trộm cắp ( VVT )Sinh tại mái ấm gia đình suy bại, xa cách họ hàng, về già làm ăn càng suy kémSớm xa cha mẹ, vợ chồng xung khắc, ly hương, lao khổNữ Mênh thì vẻ bên ngoài hiền lành nhưng trong bụng khinh người, không tử tế với cha mẹ chồngTại Tử thì khổ vì con, con cháu bất hiếuTại Phu Thê gặp sao xấu thì vợ chồng dễ ly biệtCung Phúc tại Tí, Hợi có tử vi tọa thủ gặp Kiếp Kình Suy Triệt thì là người gian ác, con du đãng, cả đời khó tránh tai ương :Phúc tại Thủy cung Đế ( tử vi ) cư, Kiếp Kình Suy Triệt giá lâm, ác nhân, đãng tử, mãn kiếp nan toàn

LUẬN VỀ BỆNH (Hành Hỏa): Bệnh là cung giai đại biểu một giai đoạn phát triển trong quá trình nhân sinh. Vượng rồi suy, suy rồi bệnh, nhưng không phải bệnh mang cái nghĩa là đã suy đến cùng cực.

Mọi Người Cũng Xem   Cách Tìm Bạn Quanh Đây Trên Zalo Máy Tính Năng Tìm Quanh Đây Trên Zalo

Bệnh vào Mệnh cung không hề bảo rằng người ấy mắc bệnh, chuẩn bị sẵn sàng mang bệnh. Nó chỉ nói lên cái lực sinh mệnh không vững vàng. Vào Phụ Mẫu, Huynh Đệ thì duyên phận với người thân trong gia đình bất túc. Vào Tài Bạch ý chí tìm tiền bạc nhược, thiếu đầu óc thực tiễn, nếu gặp Hóa Kị cùng các sát tinh khác thì do bệnh tật mà hao tốn tiền tài. Vào Quan Lộc cung ở trường hợp có cả Thiên Lương thì nên theo đuổi nghề thuốc ( thầy lang, y tá ), vào những ngành cần một đậm cá tính kinh khủng không mấy hay .Sao Bệnh cố định và thắt chặt ảnh hưởng tác động không nặng bằng tác động ảnh hưởng vào vận hạn lưu niên. Bệnh đóng cung Tật Ách sức khỏe thể chất kém .Chủ bệnh tật, đau yếu, suy nhược, buồn rầu, dại khờ, hay nhầm lẫn ( TTL ), hư nhược, tật bệnh, lao khổ, xa lánh họ hàngBệnh, Tử cư Mệnh hãm thì người hình dáng hơi ốm, da xám, mắt có quầng đen ( VVT )Bệnh và Tử rất hợp với sao Liêm Trinh, gặp Liêm Trinh miếu thì thường thiên về võ nghiệp và có quyền binh ( VVT )Bệnh và Tử gặp Vũ Khúc, Thiên Tướng hãm địa thì phái nam hay mắc tai nạn thương tâm binh đao, bị hình thương tàn tật, phái nữ bị xảy thai, sinh thiếu tháng ( VVT )Bệnh và Tử gặp Hình thì thường bị lao, kinh phong, phong cùi ( VVT )Hạn có Bệnh Tử gặp Song Hao, Bệnh Phù, Tang Hổ thì khó thoát bệnh tật hình thương ( VVT )Tật Ách có Bệnh hay Tử gặp Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư, Bệnh Phù không có Tuần Triệt án ngữ thì sẽ mắc bệnh nan y ( VVT )Lúc nhỏ hay mắc bệnh hiểm nghèo, sớm xa cách cha mẹ, tình đắu trắc trở, về già thì làm ăn thất bại, lo buồn, mái ấm gia đình bất hòa, hay đau ốmNữ Mệnh tính tình ôn thuận, nhưng nửa đời người vợ chồng ly biệt, bị chồng ruồng bỏ hoặc chồng làm ăn thất bạiTại Tử thì con ít, con hay đau ốmKình gặp Tử đồng cung hay Tuyệt tam chiếu thì tính tình nóng nảy, hung bạoĐào Hoa gặp Tử đồng cung hoặc Tuyệt tam chiếu thì quỉ quyệt, xảo ngôn, hoang dâm, du đãng, vong ơn bội nghĩa

LUẬN VỀ TỬ (Hành Thủy (TTL), Hỏa (VVT): Tử không thể giảng theo lề lối vọng văn sinh nghĩa cho là sự chết chóc. Bệnh đến độ cùng cực là tử, một giai đoạn yếu nhược hoàn toàn của sinh mệnh.

Tử vào Phụ Mẫu, Huynh Đệ quen thuộc sơ ly, nếu nó gặp Kị Hình ở cung này thì không được cả sự che chở nuôi dưỡng của cha mẹ .Tử đứng cung Phúc Đức, con người tâm ý xấu đi, không khi nào thành dữ thế chủ động, an phận, tùy thuộc. Tử đóng cung Tài Bạch cái lòng ham kiếm tiền nguội lạnh. Có khuynh hướng tích góp cất dấu hơn là xoay sở tăng trưởng .Tử vào Mệnh cung tính thâm trầm kín kẽ, pha không ít bi quan, dễ buồn. Cũng như các sao khác thuộc vòng Tràng Sinh, Tử tác động ảnh hưởng vào vận hạn lưu niên lưu nguyệt lưu nhật mạnh hơn .Chủ sự chết chóc, tang thương, sầu thảm, chiết giảm phúc thọ ( TTL ), lao khổ, không cả quyết, bệnh hoạn, không có khí phách, vợ chồng phân ly ( TMT )Thâm trầm kín kẽ ( TTL )Hay tâm lý sâu xa, đa sầu đa cảm ( TTL )

Lúc nhỏ mắc bệnh hiểm nghèo, xa cách cha mẹ. Khó có con, vợ chồng ốm đau hoặc chia ly

Làm việc không khi nào vừa lòng, bỏ lỡ nửa chừngSuốt đời lao khổNữ Mệnh vợ chồng sớm ly biệt, hai ba đời chồng, gặp sát tinh hay gặp tai ương, con cháu hư hỏng ( TMT )Tại Tử Tức con cháu ít, không giúp ích được cha mẹ, nên có con nuôiTại Huynh đệ thì xa cách bạn bè hoặc ít bạn bèĐiền hay Tài gặp Tử thủ thì là người biết giữ của, có tài lộc kim ngân chôn dấu ( TTL )Kình gặp Tử đồng cung hay Tuyệt tam chiếu thì tính tình nóng nảy, hung bạo ( TMT )Đào Hoa gặp Tử đồng cung hoặc Tuyệt tam chiếu thì quỉ quyệt, xảo ngôn, hoang dâm, du đãng, vong ơn bội nghĩaCung Phúc Đức có Tướng hay Binh ( Tướng Quân và Phục Binh xung chiếu với nhau ) gặp Tử hay Tuyệt đồng cung thì trong họ có người chết trận, chết về binh đao, theo Nguyễn Mạnh Bào thì người trong họ hàng phải lo chinh chiến :Họ hàng có kẻ binh đao, Tướng Binh Tử Tuyệt đóng vào Phúc cung ( 11 )Họ hàng có kẻ binh đao, Tướng ( Tướng Quân ) Binh Tử Tuyệt đóng vào phúc cungHọ hàng có kẻ binh đao, Tướng Tuyệt Tử Phục lâm vào phúc cung ( QXT )Người tộc thuộc phải lo chinh chiến, Tướng, Phục Binh, Tử, Tuyệt Phúc cung ( B108 )Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng, hạn gặp Thiên La Cự Môn Thiên Đồng có Tử thủ hay Tuyệt chiếu lại có sát tinh thì như Quan Hầu, tức Quan Vân Trường, chết thảm nơi trận mạc. Chú ý tử vi Tí Ngọ mới có Cự Đồng hãm đồng cung tại Sửu Mùi, và Tử Phủ Dần mới có Cự Đồng hãm tam chiếu với nhau tại Tỵ Dậu, Tuyệt chỉ an tại Dần Thân Tỵ Hợi và không khi nào Tử và Tuyệt tam hợp xung chiếu :Mệnh đắc Tử Phủ Vũ Tướng hạn đáo Thiên La Tử Tuyệt Cự ( Cự Môn ) Đồng ( Thiên Đồng ) Sát diệu ( Sát tinh ) lai xâm, ngộ địa sa trường, Quan Hầu táng Mệnh ( 74 )Cung Phúc có Đồng Âm tại Tí Ngọ gặp Kiếp, Tử, Triệt, Tuần thì là người có học nhưng không có lương tâm, bất chính, không nghèo hèn thì chết non :Phúc tại Tí Ngọ Đồng Âm Kiếp Tử ( sao Tử ) đãn hiềm Triệt Tuần, hữu học vô lương, tiện cáchLUẬN VỀ MỘ ( Hành Thổ ) : Ba sao trọng điểm của vòng Tràng Sinh là : Tràng Sinh, Đế Vượng và Mộ gọi tắt bằng Sinh – Vượng – Mộ. Sinh là sinh ra và lớn lên, Vượng là cường tráng thành thục, Mộ là tiềm tàng .Vậy thì không có nghĩa là chôn đi sinh mệnh trọn vẹn đoạn tuyệt. Mệnh Thân cung không nên đứng vào chỗ có sao Mộ, sự khai triển thành công xuất sắc sẽ khó khăn vất vả khó khăn vất vả hơn .Mộ vào cung Tài Bạch lại hay vì dễ tích súc của cải hơn, dù số nghèo cũng không đến nỗi khổ, số giàu thì bền. Hóa Lộc đóng cung Mộ tiền tài thiếu linh động tăng trưởng .Đến đây lại gặp phải nghi vấn khi các kim chỉ nan gia nêu ra nguyên tắc : Lộc Tồn không khi nào đóng vào cung MộNếu Tràng Sinh đi theo chiều nghịch đương nhiên Mộ vào cung Tí Ngọ Mão Dậu. Lộc Tồn xuất hiện ở đây so với tuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân và Quí. Như vậy Mộ cung Thìn Tuất Sửu Mùi không tương quan đến các sao Mộ của vòng Tràng Sinh ?Áp dụng nguyên tắc này thì vòng Tràng Sinh chỉ có một chiều đi thuận mà thôi. Nhưng mà rành rành tử vi Đẩu Số lại ghi vòng Tràng Sinh thuận và nghịch hai chiều tùy theo Dương Nữ hay Âm Nam hoặc tùy theo nữ mạng nam mạng .Qua kinh nghiệm tay nghề thì toàn bộ những cung Mệnh nào đóng vào tứ Mộ cuộc đấu tranh cho sự thành đạt thường khó khăn vất vả khó khăn vất vả hơn như Tử Phá, Tham Vũ, Thiên Phủ, Thiên Tướng …Chủ sự lầm lẫn, chôn cất, ngu si, đần độn, u mê ( VVT ), suy bại, bần hàn, lo buồn, lao khổ, xa mái ấm gia đình, duyên phận tệ bạcGặp Phá Quân tại Thìn Tuất Sửu Mùi là hợp cách. Phá Quân đồng cung với Mộ thì được Mộ khắc chế được tính tàn khốc, ưa giết chóc, sát phạt mà hoàn lương lại cho Phá Quân ( VVT )Đồng cung với Xương Khúc tại Thìn Tuất Sửu Mùi thì là người có cơ mưu, học nhiều, đa tài, phú quí ( VVT )Gặp Hỏa Linh, Không Kiếp tam hợp, xung phá thì nghèo túng, nợ nần, con trai thứ ba, con gái thứ hai sẽ đơn độc, khổ cực, vợ thứ ba khó tránh được hạn họa ( VVT )Sớm xa mái ấm gia đình, đổi khác chỗ ởLúc nhỏ hay ốm đau gầy yếu, bất hòa với cha mẹ, đồng đội, nghèo hèn. Gần về già thì làm ăn khá hơn nhưng hay lo buồn. Lập mái ấm gia đình hai lần. Nữ Mệnh thì vợ chồng bất hòa, dễ ly dịTại Tử thì con cháu ít, khổ vì conTại Phúc ở Tứ Mộ thì rất rực rỡ tỏa nắng, tốt đẹp, trong họ có âm phần đã kết phát, ba bốn đời giàu sang vinh hiển ( TTL )Gặp Tài tinh thì là người keo bẩn, coi trọng tiền của, không dám tiêu tốn ăn xài, bo bo giữ của vì Mộ là chôn cất, giấu điVì Mộ là chôn vùi nên có đặc thù là khi tọa thủ tại cung Phúc Đức thì lại hợp cách, chủ về mồ mả kết phátMệnh có thai hay Mộ thì tuy có học nhưng không đỗ đạt :Thai tinh, Mộ diệu đa học thiểu thành ( 2 )Mệnh có Mộ thì đầu óc không sáng suốt, ngưng trệ nhưng nếu gặp Tuần Triệt thì lại mưu tríMộ ám tế, Thai đa ( nhiều ) mê hoặc ,Mộc Dục hay trang sức đẹp văn hoa ( hay chưng diện )Chú ý các câu phú tương quan đến Mộ thường có hai khuynh hướng lý giải : Mộ là sao Mộ hoặc Mộ là Tứ Mộ, tức là bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi. Bốn cung này là nơi các bộ sao Tả Hữu, Xương Khúc, Long Phượng, Thai Tọa, Quang Quí thủ đồng cungSao Mộ tại Tứ Mộ lại gặp Tam Thai Bát Tọa thì là người có tài và có danh, nổi tiếng nhưng theo Nguyễn Mạnh Bảo thì Thai Tọa tại Tứ Mộ cung thì văn võ toàn tài :Thai Mệnh đa học thiểu thành ( học nhiều nhưng không thành công xuất sắc ) ,Mộ gặp Thai Tọa hiển danh anh tàiMộ Thai Tọa võ văn xuất chúng ,Ngọ ( cung Ngọ ) Khoa Quyền nhậm trọng phiên hàn ( B114 )Hạn gặp sao Mộ tọa thủ đồng cung với Thái Dương thì cha đau nặng hoặc chết :Mộ Tinh ngộ Nhật, phụ vương nan toàn ( 13 )Theo Nguyễn Mạnh Bảo thì cung Quan Lộc hay Mệnh ở cung Mộ có Tả Hữu củng chiếu hay thủ thì làm quan cao chức trọng thăng quan tiến chức luôn ) :Mộ phương ( phùng ) Tả Hữu đồng lai ,Thăng quan tiến chức miếu đài nổi danh ( B38 )Hạn có Cự hoặc Vũ sáng sủa gặp Hóa Quyền hay Mộ gặp Thai Tọa thì sự nghiệp thuận tiện, thăng quan tiến chức :Tiểu hạn Cự Vũ Hóa Quyền ,Hoặc Mộ ( sao Mộ ) Tả Hữu ấy miền thăng vinhHóa Lộc là sao tốt đẹp nhưng cư ở Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi thì bị chôn vùi, làm giảm đặc thù tốt đẹp nên không hề phong phú lớn được, nhưng nếu Mệnh cư Tứ Mộ có Vũ, Tham gặp Lộc thì lại tốt, trở nên phong phú, nhưng phải ngoài 30 mới tốt, nếu phát sớm thì không bền. NMB thì lý giải rằng Hóa Lộc ở Mộ địa thì lại là buồn rầu :Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng Mộ trung tàng ( 35, TTL, B82 )Hóa Lộc thì tốt nhưng nếu cư tại Thìn Tuất Sửu Mùi thì lại đáng buồn bì tại vị trí này bị giảm rất nhiều tốt đẹp. TVT giải rằng Hóa Lộc thì tốt nhưng nếu cư ơ Tứ Mộ thì là người có nét măt buồn rầuHóa Lộc hoàn vi hảo, nhược cư Mộ địa dĩ tắng bi ( 28 )Phúc tại cung Mão có tử vi Tham Lang hoặc Tướng Thiên Phủ nếu gặp cát tinh, Tam Hóa thì hưởng phúc bền chắc, nhưng nếu gặp Triệt Tuần Không Kiếp Kình Đà Mộ thì gặp tai nạn thương tâm về gươm giáo, mộ của đàn ông bị thất lạc :Phúc thọ Chấn cung, Đế ( tử vi ) Tham Tướng Phủ hạnh phùng cát tú, Tam Hóa giá lâm ( mừng gặp Cát tinh, Tam Hóa ) phúc tăng bất tuyệt ( hưởng phúc bền chắc ), hựu kiến Triệt Tuần, Tứ Sát ( sợ gặp Triệt Tuần Không Kiếp Kình Đà ) Mộ tinh ( sao Mộ ), tất hữu đao thương chi ách ( thì gặp tai nạn đáng tiếc về gươm giáo ), dương mộ lạc di ( mộ của đàn ông bị thất lạc ) ( 84 )Phúc tại cung Mùi có Tứ sát ( Không Kiếp Kình Đà ) Mộ, lại là tuổi Kỷ mạng Thổ, lại gặp sát tinh cư chiếu, Hóa Kỵ, Lưu Hà thì chết vì sông nước nhưng nếu gặp Sinh Vượng, Long Khoa thì là người đánh cá có tài, gặp Quyền Hình thì là quan tòa coi về phát luật :Phúc tọa Đỉnh Sơn ( cung Mùi ) Tứ sát ( Không Kiếp Kình Đà ) đồng cư Mộ diệu ( sao Mộ ), lai Kỷ nhân sinh Mộ ( lại là tuổi Kỷ mạng Thổ ), đa cư triều sát diệu ( gặp sát tinh cư chiếu ), Kỵ ( Hóa Kỵ ), Lưu ( Lưu Hà ) giang đồ ngộ sát ( chết vì sông nước ), hạnh kiêm Sinh Vượng, Long Khoa hiển tài ngư phủ ( là người đánh cá có tài ) Quyền Hình tọa củng thừa hành án pháp ( quan tòa coi về phát luật ) ( 88 )Cung Phúc Đức tại Sửu có Vũ Tham tọa thủ có Tả Hữu, Long Phượng, Mộ, Bát Tọa thì trong họ con trai làm nên Gianh Giá, gặp Khoa Quyền Lộc, Bạch Hổ, Riêu thì con gái lưu lạc giang hồ mà làm nên Gianh Giá :Phúc ( cung Phúc Đức ) tại Sửu cung, cư tọa Tham Vũ, diệc cần Tả Hữu Phượng Long ( Long Trì ) Mộ Tọa ( Bát Tọa ) nam hiển danh tài, lai ( gặp ) Tam Hóa ( Khoa Quyền Lộc ) Hổ ( Bạch Hổ ) Riêu Nữ tất giang hồ hiển hách Gianh Giá ( 30 )Cung Phúc Đức có Tham Vũ đồng cung gặp Mộ thì bốn đời được hiển vinh, bản thân cũng làm nên Gianh Giá. Đây là trường hợp Mệnh tử vi Thất Sát tại Tỵ HợiTham Vũ sát cánh cư Phúc hạnh phùng Mộ tinh ( mừng gặp sao Mộ ), tứ đại hiển vinh

LUẬN VỀ TUYỆT (Hành Thổ (TTL), Hỏa (VVT): Tuyệt là giai đoạn xấu nhất. Tử với Mộ còn có sinh nhưng Tuyệt là tuyệt diệt. Cho nên Tuyệt đóng Phụ Mẫu, Huynh Đệ hay Phu Thê kể là tuyệt đối xấu. Tuy nhiên đây chỉ là tạp diệu thôi, còn cần phối hợp với các sao khác ở cung này để quyết đoán, không chỉ căn cứ vào một sao Tuyệt.

Tuyệt vào cung Tật Ách có tốt như Triệt Tuần không ? Căn cứ vào nghĩa tuyệt của nó ? Không và trái lại. Tuyệt vào Quan Lộc và Tài Bạch là cho ý chí kém cỏi, ưa nản, thiếu nhiệt huyết chiến đấu .Các sách Trung Quốc không thấy nói về cách Tuyệt Hỏa tức Tuyệt gặp Hỏa Tinh. Nhưngtử vi Việt có Tuyệt gặp Hỏa Tinh khi Mệnh cung đóng Hợi thì lại là con người quật khởi hiên ngang .Vận có chúng thì dễ xoay chuyển thời cơ, như con ngựa Đích Lưu của Lưu Bị nhảy qua Đàn Khê, sắp cùng khốn mà lại vượt lên .Tuyệt Hỏa đi cùng Thất Sát thành ra người hung tàn, phải chăng là vì tâm ý bị dồn nén đến cùng độ mà phản công mạnh trở lại ?Cung Tỵ Sát ấy là đẹp quáNếu chẳng may Tuyệt Hỏa cùng ngồiẤy phường hung tàn đó thôiẤy phường khát máu tanh hôi sá gìChủ sự bại hoại, khô cằn, tiêu tan, làm bế tắc mọi việc làm, chiết giảm phúc thọ ( TTL ), thăng trầm, đoạn tuyệt, hiếu sắc, xa cách người thân trong gia đình, sống cô độc, không giữ lời hứa, phá sảnMệnh có Tuyệt tọa thủ thì khôn ngoan, đa mưu túc trí ( TTL )Tuyệt tương hợp với Hóa Lộc thì đắc cách. Tuyệt cư Tí Ngọ hội Song Lộc thì mưu trí, phát phúc, có văn học mà quí hiển. Chú ý VVT an vòng Tràng Sinh theo kiểu khác mới có trường hợp Tuyệt tại Tí Ngọ ( VVT )Gặp Vũ Khúc, Phá Quân thì cha con bất hòa, vợ chồng ly biệt, trai thì lãng đãng rong chơi, gái thì đa dâm, vợ cả và vợ hai tư tình thông gian ( VVT )Tại Tử thì rất kỵ gặp. Hội với Cô Quả ở Tử Từc thi là cách về già không có con hay là cách hữu sinh vô dưỡng ( VVT )Xa quê nhà lập nghiệp, họ hàng ly tánSống cô độcLàm việc hay thất bạiHay thất tín, không giữ lời hứaVì gái đẹp mà chếtNữ Mệnh hay trách mắng người khác, kèn cựa, không thực lòng yêu chồng, vợ chồngxung khắc bất hòaTại Tử thì ít conKình gặp Tử đồng cung hay Tuyệt tam chiếu thì tính tình nóng nảy, hung bạoĐào Hoa gặp Tử đồng cung hoặc Tuyệt tam chiếu thì quỉ quyệt, xảo ngôn, hoang dâm, du đãng, vong ơn bội nghĩaMã Tuyệt đồng cung thì như ngựa hết đường chạy, chủ sự bế tắc, thất bại :Mã cùng sao Tuyệt một nhà, Cùng Đồ Mã ấy thật là vô phươngMã kia Tuyệt địa một nhà, Cùng Đồ Mã ấy thiệt là vô phươngBộ Mã Lộc rất tốt đẹp nhưng nếu bị Tuần Triệt hay gặp Tuyệt đồng cung hoặc Mộc Dục tam chiếu thì lại không còn tốt đẹp, nếu giàu sang thì chết sớm nhưng nếu nghèo hèn thì lại sống lâu :Mã, Lộc hãm Không Vong Tuyệt Bại ,Sợ Kiếp Không hợp Thái Tuế xungGiầu tổn thọ, khó duyên sinh ,Phù Thân giúp Mệnh hạn hành khác nhau ( B158 )Lộc Mã ngộ Bại, Tuyệt hương ( ở Bại Địa, Tuyệt Địa )Tuế ngộ Không Kiếp là phương không lành ( B171 )Kình Dương ngộ Tuyệt ở chốn hãm thì chết non :Dương Nhận ngộ Tuyệt tinh chốn hãm ,Công cù lao bú mớn như không ( B49 )Thất Sát Hình Kỵ gặp Tuyệt thì chết non :Tuyệt ngộ Thất Sát, Kỵ, Hình ,Thiếu niên yểu triết như hình Nhan Uyên ( B180 )Cung Phúc Đức có Tướng Binh gặp Tử hay Tuyệt thì trong họ có người chết trận, chết về binh đaoHọ hàng có kẻ binh đao, Tướng Binh Tử Tuyệt đóng vào Phúc cung ( 11 )Họ hàng có kẻ binh đao, Tướng ( Tướng Quân ) Binh Tử Tuyệt đóng vào phúc cungNgười tộc thuộc phải lo chinh chiến, Tướng, Phục Binh, Tử, Tuyệt Phúc cung ( cung Phúc có thì người trong họ hàng phải lo chinh chiến ) ( B108 )Họ hàng có kẻ binh đao, Tướng Tuyệt Tử Phục lâm vào phúc cung ( QXT )tử vi Thất Sát tại cung Tỵ thì ví như vua mang kiếm báu tất yếu có uy quyền và phú quí, gặp Hỏa Tinh, Tuyệt hội họp thì người khát máu, tàn ác, hay giết người, nhưng lại gặp thêm Bật Khoa Mã Ấn Tràng Sinh, Hồng Loan thì lập được chiến công thần kỳ, là Ðại TướngSát Tử ( tử vi Thất Sát ) Tốn cung ( cung Tỵ ) Ðế huề bảo kiếm, Hỏa ( Hỏa Tinh ) Tuyệt nhập xâm, đa sát chi nhân, hạnh ngộ Bật Khoa Mã Ấn Sinh Hồng di lập chiến công vi Ðại Tướng ( TTL )TTL cho rằng Mệnh an tại Tuyệt địa có Thất Sát tọa thủ gặp Kình Đà hội hợp thì như Nhan Hồi bị chết sớmSát ( Thất Sát ) lâm ( ở tại ) Tuyệt Ðịa hội Dương Ðà, Nhan Hồi yểu triết ( TTL )Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng, hạn gặp Thiên La Cự Môn Thiên Đồng có Tử thủ hay Tuyệt chiếu lại có sát tinh thì như Quan Hầu, tức Quan Vân Trường, chết thảm nơi trận mạc. Chú ý tử vi Tí Ngọ mới có Cự Đồng hãm đồng cung tại Sửu Mùi, và Tử Phủ Dần mới có Cự Đồng hãm tam chiếu với nhau tại Tỵ Dậu, Tuyệt chỉ an tại Dần Thân Tỵ Hợi và không khi nào Tử và Tuyệt tam hợp xung chiếu :Mệnh đắc Tử Phủ Vũ Tướng hạn đáo Thiên La Tử Tuyệt Cự ( Cự Môn ) Đồng ( Thiên Đồng ) Sát diệu ( Sát tinh ) lai xâm, ngộ địa sa trường, Quan Hầu táng Mệnh ( 74 )Phúc cư Tuất gặp Tả Hữu, Hồng Quyền, tử vi Thiên Phủ thì mồ mả rất đẹp, kết phát, tạo nên những sự nghiệp kỳ dị, sợ gặp Cự Đồng, Kiếp Tuyệt Xương Linh thì mộ phần đưa đến nhiều người tàn tật, nghèo hèn, không có cửa nào mà tránh được ( 89 )Phúc cư Địa Võng ( cư Tuất ), hạnh phùng Phù Bật, Hồng Quyền Tử Phủ ( tử vi Thiên Phủ ) mồ phức tạp tối hảo ( mồ mả rất đẹp ), âm công hoạnh phát ( mồ mả kết phát ) kiến công lập nghiệp dị thành ( tạo nên những sự nghiệp kỳ dị ), khủng kiến ( sợ gặp ) Cự Đồng, Kiếp Tuyệt Xương Linh mộ phần đa phát tật nguyền ( mộ phần đưa đến nhiều người tàn tật ), bần cách ( nghèo hèn ) vô môn khả đáo ( không có cửa nào mà tránh được )

LUẬN VỀ THAI (Hành Thổ): Sau khi tuyệt diệt thì đến một sinh mệnh khác khai mở. Nhưng Thai đại biểu cho yếu nhược, non nớt chưa có một sức mạnh nào cả. Vậy thì Thai đóng Mệnh cung thì ý chí lực còn non kém, nhưng đồng thời nó cũng đại biểu một hy vọng.

Theo sách vở Trung Quốc, Thai đứng với Nhật Nguyệt Thiên Lương ở Tài Bạch, Quan Lộc chỉ vào một kế hoạch lâu bền hơn để tăng trưởng cơ sự nghiệp ? tử vi Việt nói về sao này nhiều hơn .Thai đóng cung Tử Tức gặp thêm nhiều quí tinh thì con đông, dễ đẻ dễ nuôi, nếu gặp nhiều sát tinh thì ngược lại. Thai đóng Mệnh mà gặp Khôi Việt Hồng Loan là bậc văn chương ?Thai đi với Kình Đà Linh Hỏa thì lại ra ngu dốt. Cung Phu Thê có Đào Thai vợ chồng dễ đưa đến tình ngoại hôn. Số nữ mà Mệnh cung hay Phu cung có thai Đào tiền dâm hậu thú. Đại tiểu hạn Thanh Long Thiên Hỉ dễ đạt ước nguyện về con cháu .Chủ sự giao hợp, thụ thai, sinh nở, ngu dốt, mê muội, hay nhầm lẫn, chơi bời ( TTL ), đần độn, dễ bị mê hoặc, không cả quyết, hay bị thai đổi việc làm, khắc hãm vợ ( TMT )Thai tọa thủ bất kể cung nào gặp tuần Triệt án ngữ hay gặp nhiều sát tinh, bại tinh hội họp thì mới sinh ra đã hay đau yếu, thường sinh thiếu tháng ( TTL )Thuở nhỏ hay ốm yếu, khổ cực, trung niên thì khó khăn vất vả nhưng sức khoẻ thăng quan tiến chức. công việc làm biến hóa luôn, về già mới được an nhàn nhưng hay buồn chán về thân tộc, họ hàng tranh chấp .Khắc với cha mẹ, đồng độiKhông cả quyết, ý thức dễ bị mê loạnNữ Mệnh thì dễ đối nghịch với cha mẹ chồng, nội trợ kémTại Tử thì con ăn chơi phóng đãng, không thích hành nghề của chaMệnh có thai thủ thì học nhiều nhưng không thành đạt :Thai lâm Mệnh vị, đa học thiểu thành ( 1, B60 )Thai tinh, Mộ diệu đa học thiểu thành ( 2 )Kìa ai nhiều học ít nên, Sao Thai ở Mệnh hay quên hay nhầm ( B114 )Thai Mệnh đa học thiểu thành ,Mộ gặp Thai Tọa hiển danh anh tài ( Sao Mộ tại Tứ Mộ lại gặp Tam Thai Bát Tọa )Hạn gặp Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà hội họp thì đề phòng bị bệnh đậu mùa hoặc bị rổ mặt :Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà, vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng ( 37 )TVT giải rằng nữ Mệnh có thai thủ gặp Đào Hoa Kiếp Sát thì hiếm conNữ Mệnh Thai Đào phùng Kiếp ( Kiếp Sát ) gián đoạn tử cung ( tại cung Tử Tức thì hiếm con ) ( 4 )có thai thủ gặp Kiếp Sát tam chiếu ( Kiếp Sát khi nào cũng tại Dần Thân Tỵ Hợi ) thì sanh đẻ khó khăn :Thai phùng Kiếp Sát tu phòng sinh sản ( 10 )TVT cho rằng tại Mệnh, Tật hay Tử Tức có thai gặp Kiếp Sát, Mộc Dục thì sanh đẻ khó khăn cần đề phòng. Chú ý Thai không tam hợp xung chiếu với Mộc Dục, chỉ nhị hợp với Mộc Dục khi Thai tại HợiThai phùng Sát, Dục ( Mộc Dục ) tu phòng sản phụ ( 3 )Phu Thê có thai thủ gặp Đào thì vợ chồng đi lại ăn ở với nhau rồi mới lấy nhau. ( VVT cho rằng Thai thủ hay chiếu tại cung Phu Thê thì cũng có ý nghĩa như trên và cho rằng Thai không nên cư cung Nô, hội với Đào Hoa thì trong nhà không tránh được vợ hay con gái có tư tình ) :Thai Tinh ( sao Thai ) mà gặp Đào Hoa, tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng ( 28 )Sao Thai lại gặp Đào Hoa, Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng ( AB, VT )Sao Thai lại gặp Đào Hoa, Trước êm loan gối, sau hòa phụng chiêm ( B105 )Phục Tướng hội với Đào, Hồng, Thai hoặc Thiên Hỉ thì là cách dâm đãng, ăn chơi, trai gái nguyệt hoa bừa bãi, có người cho rằng bị chửa hoang hoặc bị hiếp :Đào Hồng Thai Hỉ trong soi, Ngoại gia Binh Tướng gái trai ngang tàng ( B42 )Đào Hoa, Thai, Hỉ trong soi, Ngoài ra Binh, Tướng ả vui hoang tàng ( QXT, chị em gái bất chính )Thai Binh Tướng Đào Hồng tương hợp, Chẳng chửa hoang bị hiếp giật mìnhĐào Hồng Riêu Hỉ trong ngoài, Lại gia Binh Tướng gái trai hoang tàngĐào Hồng Thai Hỉ ( Thiên Hỉ ) trong soi, ngoài gia Binh Tướng ( Tướng Quân ) gái trai ngang tàng ( 17 )Cung Tử có thai Tướng Phục Binh thì vợ chồng đã ăn ở với nhau rồi mới lấy nhau. TVT giải rằng vợ chồng đã có con riêng rồi mới lấy nhau. QXT ghi rằng cùng có con riêng hoặc có chửa rồi mới cưới xinTử cung Thai Tướng Phục Binh, vợ chồng ắt đã tư sinh thuở nào ( 6 )Tử cung Thai, Tướng, Phục Binh ,Hủy xà mông trước, tước bình mấy thu ( không rõ ý nghĩa ) ( B108 )Tử cung Thai, Tướng, Phục Binh, vợ chồng ắt đã tư sinh thuở nào ( QXT )Thai đồng cung với Phục Binh hay Tướng Quân ( Phục Binh và Tướng Quân luôn luôn xung chiếu với nhau ) gặp Đào Hồng thì hoặc bị chửa hoang, hoặc bị hiếp :Thai Binh Tướng Đào Hồng tương hợp ,Chẳng chửa hoang bị hiếp giật mìnhHuynh Đệ có Đế Vượng hoặc Thai thủ gặp Tướng quân thì có đồng đội khác cha khác mẹ. Chú ý Đế Vượng và Thai xung chiếu nhau :Đế Vượng ngộ Thai soi cùng Tướng ( Tướng Quân ) ,Có dị bào trong áng Đệ Huynh ( hai đám đồng đội ) ( B42 )Đế Vượng ngộ Thai soi cùng Tướng, có dị bào trong áng đệ huynh ( 25 )Tử Tức có thai tọa thủ gặp Tả Hữu thì có con giòng vợ nhỏThai phùng Tả Hữu hội cung, Nam nhân ắt có con dòng thiếp thê ( 8 )Thai ngộ Tả Hữu hội đồng, Ắt sinh có kẻ con giòng tiểu tinh ( B49 )Tử Tức có thai gặp Hỏa hay Linh thì buồn chán vì sinh con quái thaiTử cung Thai ngộ Hỏa Linh, bào thai những giống yêu tinh muộn phiền ( 9 )Tử cung Thai ngộ Hỏa Linh, Bào thai những giống yêu tinh quỉ sầu ( B49 )Thai Hổ đồng cung thì đề phòng xảy thai, bị băng huyết :Tật cung Thai Hổ huyết băng ,Tấu Thư Hoa Cái mệnh phùng thanh caoHạn có thai phùng Đào Hỉ thì có con. Theo TVT thì Hỉ là Thiên HỉThai phùng Đào Hỉ vận này, vợ chồng mừng đã đến ngày nở hoa ( hạn sanh con ) ( 12 )Thai phùng Đào Hỉ vận này, vợ chồng mừng đã đến ngày nở hoaThai tinh, Long ( Thanh Long ), Hỉ vận này, Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa ( QXT )Thai phùng Long Hỉ vận này, Vợ mình ắt đã đến ngày nở hoa ( VT )Thanh Long, Thai, Hỉ hợp miền, Vợ đi thai nghén khá xem phúc nhàThêm đinh ấy Thai cùng Phi ( Phi Liêm ) Hỉ ,Lên đậu năm Cái tỵ Dương Đà ( hạn Hoa Cái gặp Dương Đà thì mắc bệnh đậu ) ( B110 )Cung Tử Tức có thai thủ gặp Thái Âm thì cần phải cầu tự mới có conThai tinh ngộ Thái Âm cung Tử, hẳn rằng con cầu tự mới sinh ( 5 )Sao Thai ngộ Thái Âm cung Tử, Con ắt là cầu tự mới sinh ( B107 )Mệnh có Phá Quân, Tướng Quân, Thai tọa thủ, cung Thiên Di có Phục Binh và Đào Hồng thì đàn ông là người dâm loạn, đàn bà ăn chơi trắc nết, tư thông bị người chê cười. Tướng ở đây nên hiểu là Tướng Quân vì Tướng Quân và Phục Binh xung chiếu thành ra mếnh có Tướng Quân thì Di có Phục Binh :Tướng Phá ( Phá Quân ) Phục nội tàng Thai diệu, Ngoài Đào, Hồng tú ( sao Hồng Loan ) chiếu Thiên Di. Có người dâm dục thị phi, Tư thông chi để kẻ chê người cườiTướng Phá Phục nội tàng Thai diệu, ngoại Hồng Đào tu chiếu Thiên Di. Nam nhân dâm dục thị phi, nữ nhân tắc kỷ kẻ chê người cười ( 26 )Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu, Ngoài Đào, Hồng, Hoa Cái, Thiên Di. Có người dâm dục thị phi, Tư thông chi để kẻ chê người cườiCó những câu phú về sao Thai như sau :- Thai phùng Sát Dục tu phòng sản phụ( Số nữ ở Tật Ách hay Tử Tức có thai gặp Kiếp Sát Mộc Dục sanh đẻ khó khăn )- Nữ mệnh Thai Đào phùng Kiếp gián đoạn tử cung( số nữ có thai Đào Kiếp Sát có gì không ổn về bộ phận sinh đẻ )- Thai tinh ngộ Thái Âm cung TửTất là con cầu tự mới sanh- Thai phùng Tả Hữu Hợi cungNam nhân ắt có con dòng thiếp thê( Ở cung Tử Tức )- Tử cung Thai ngộ Hỏa LinhĐào Thai những giống yêu tinh muộn phiền- Thai phùng Đào Hỉ vận nàyvợ chồng mừng đã đến ngày nở hoa .

Mọi Người Cũng Xem   Cách phối trộn phân đơn theo công thức

LUẬN VỀ DƯỠNG (Hành Mộc): Dưỡng là nuôi, kết thai rồi thì phải nuôi dưỡng nên Dưỡng với Mộ bao giờ cũng ở hai cung đối chiếu nhau trên lá số. Dưỡng cũng như Mộ đều mang ý nghĩa tiềm tàng ẩn phục. Nhưng Mộ thì ẩn tàng khi đã vào thời kỳ suy tàn còn Dưỡng thì ẩn tàng của giai đoạn chưa hoàn toàn thành thục mà dịch kinh gọi bằng “tiềm long vật dụng” (rồng ẩn trong ao). Dưỡng rất hợp cho thời kỳ sửa soạn để phát động.

Dưỡng vào cung Tật Ách là bệnh đã xâm nhập tiềm tàng .Dưỡng vào Quan Lộc thao tác gì cũng cần suy tính có kế hoạch chu đáo không hề cứ làm bừa .Đối với tử vi Việt thì Dưỡng đại biểu đặc thù cẩn trọng và hợp với nghề chăn nuôi. Dưỡng vào cung tử tức thì nuôi con người hoặc con riêng. Dưỡng vào cung Huynh Đệ thì có bạn bè nuôi .Tam Không ngộ Dưỡng đinh ninhNuôi con nghĩa tử giúp mình yên vuiKhốc Hư ngộ Dưỡng không lành .Tướng Binh xung phá hẳn đành hoang thai( Nói về những sao trên đóng vào cung Tử Tức )Ví như án thư ( cái bàn học ) của người thao tácChủ sự phù trì, nuôi nấng, siêng năng, cẩn trọng ( TTL ), khắc vợ con, ham sắc dục, làm con nuôi, xa mái ấm gia đình ( TMT )Gặp cát tinh thì phù trì thêm tốt đẹpGặp Hỏa Linh, Không Kiếp thì làm con nuôi họ khác hoặc là những người hay thay đôi tên họ, có nhiều bí danh ( TMT )Tọa thủ tại Mệnh thì được nhiều người yêu quý, nuôi súc vật rất thuận tiện ( TTL )Tọa thủ tại Thân thì có nhiều con ( TTL )Tọa thủ tại Mệnh, Phúc thì làm con nuôi họ khác ( TTL )Tọa thủ tại Tật gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội họp thì có nhiều bệnh tật, đau yếu lâu khỏi ( TTL )Tọa thủ tại Tử Tức thì có con nuôi ( TTL )Tọa thủ tại Huynh Đệ thì có anh chị em nuôi ( TTL )Cha hoặc bản thân là con trưởng hoặc sống xa cha mẹKhắc cha mẹ, không sống chung với cha mẹHiếu sắc, ít khi một đời vợ hay chồng. Vì ham mê sắc dục mà phá sảnHiếm con, khắc chồng vợNếu thuở bé được người ngoài nuôi dưỡng hoặc làm con nuôi thì tốtVề già được con cháu nuôi hoặc nhờ vả được con nuôiTử Tức có Dưỡng thủ thì rất tốt, có con quí tử, theo Nguyễn Mạnh Bảo thì Hỉ Thần gặp Dưỡng thì con quí tử, hiền lương nhưng có người cho rằng hỉ có nghĩa là mừng gặp :Dưỡng hỉ lâm ư Tử Tức tất sanh con quí tử ( 7 )Hỉ Thần ngộ Dưỡng cát sương, Ắt sinh quí tử hiền lương tốt đẹp ( B49 )Tử Tức không có chính diệu đắc Tam không, có cát diệu lại có sao Dưỡng thì có con nuôi :Tam không chiếu nội tao cát diệu, Lại Dưỡng tinh có đạo con nuôi ( B42 )Tam không, gia nội tao cát diệu, Ngộ Dưỡng tinh cũng nẻo con nuôi ( QXT )Các câu phú cần xét lại :Nhật Mộc ( Mộc Dục ) Mã tại Tỵ cung ,Trường Sinh Phụ Bật hợp cùng : phú vinh ( HC 55 )Bằng gặp Tướng Ấn : binh hùng ,Phải thời loạn thế mới thành công xuất sắc to ( HC )Mệnh Hóa Kỵ Tật Mộc thần ( Mộc Dục ) ,Âm nang sa thấp một phân chẳng lầmMệnh viên Kỵ Tật Hỉ Thần ,Âm hư, trĩ lậu mười phân chẳng lầm ( VT )( bị bệnh sa tử cung )Thiên Cơ ngộ hãm chẳng hay ,Ở phương địa này hiện quái Mộc tinhThiên Cơ ngộ Hỏa chẳng hay ,Phùng Không, Kiếp Mộc nở đầy quải lưu ( QXT )( Thiên Cơ hãm địa ở phương nào thì ở phương ấy có hồ ly tinh Mộc tinh. QXT ghi rằng Điền có Cơ ngộ Hỏa thì nhà bị cháy, có Không, Kiếp Mộc Dục ngộ Cơ thì có ma Mộc )Bịnh ( sao Bịnh ) Hình, nói chẳng hở răng ,Hãm cung Phá, Tuế nói bằng sấm vang ( giọng vang như sấm )Binh, Hình nói chẳng hở răng ,Hãm cung Phá ( Phá Toái ), Tuế nói bằng sấm vangBinh Hình tẩm ngẩm tầm ngầm ,Hãm cung Phá Tuế nói rầm sấm vang( Có lẽ Binh Hình thì đúng hơn )Bệnh đởm trí tức rất hung ,Bởi vì Tật Ách Bệnh phùng Kiếp CơBệnh lao, đàm thấp chẳng thông ,Bởi vì Tật Ách đã phùng Kiếp Cơ ( QXT )Bệnh phổi, đàm, trĩ chẳng không ,Nhân vì Tật Ách lại cùng Kiếp, Cơ ( VT )( Cung Tật có sao Bệnh phùng Địa Kiếp Thiên Cơ thì mắc bệnh về gan hay thần kinh rất nguy khốn )Tử Tham Tả Hữu ngộ trung ,Có người con gái trốn chồng ra điTử, Tang, Tả, Hữu hội trung ,Có người con gái lộn chồng tìm ra( Tử Tham gặp Tả Hữu ở cung Mão Dậu thì là đàn bà trốn chồng bỏ con ) ( B43 )Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung ,Có người con gái lộn chồng tìm ra ( AB318 )( không rõ Tử là tử vi hay sao Tử )Trong câu phú này, Tử nên hiểu là tử vi :Lộc Tồn, Tử cùng Thiên Mã hội ,Ngộ khác thường, mừng buổi phong phú ( QXT )Trong câu phú này, Tử nên hiểu là tử vi :Sát phùng Tồn, Tử giải qua ,Một sao Kỵ đóng, ắt là tối tăm ( QXT )Sát gặp Tồn, Tử đoán ra ,Lại sao Kỵ đóng ắt là tối tămMão Thìn ngộ Triệt táo đường ,Tỵ Ngọ phùng Tuyệt cung thường ôn binhMão, Thìn ngộ dã dành ông Táo ,Ly ( cung Ngọ ), Tốn ( Tỵ ) phùng phải Cáo, ôn binh ( QXT )( Triệt cư ở Mão Thìn thì thường có sự lôi thôi trong nhà bếp. Cung Tỵ Ngọ gặp Tuyệt thì thường bị ôn binh đến quấy nhiễu ) ( B40 )Câu phú này cần xét lại vì Tang không hề gặp Đào Hồng tam hợp xung chiếu :Phúc ( cung phúc ) Thai, Tang ngộ Đào Hồng ,Tôn thân có kẻ loạn phong nợ đời

Trường Sinh khi giải đoán đại hạn:

Cục là thế cuộc, thực trạng mà cá thể sinh sống, được biểu lộ bằng vòng Tràng sinh trên lá số. Vòng Tràng Sinh không những có tầm quan trọng khi giải đoán hàng loạt lá số mà cũng rất quan trọng khi luận đoán hạn, nhất là đại hạn. Tùy theo ý nghĩa và chiếu lên xuống của vòng và ý nghĩa của sao mà thấy được khunh hướng thuận tiện hay khó khăn vất vả, thành công xuất sắc hay thất bại, ví như được Sinh Vượng thì gặp thực trạng xứng ý, mặc dầu gặp chính tinh mờ ám thì cũng gặp hên may cứu giải, gặp Suy Bệnh Tử Tuyệt thì gặp thực trạng bất đắc ý, thời thế xuống dốc, mặc dầu có chính tinh sáng sủa cũng không phát mạnh được hoặc không bền, nếu có hung sát tinh xâm nhập thì dễ bị họa hại

Sinh khắc Mệnh Cục và vòng Tràng Sinh

Một số người địa thế căn cứ vào sinh khắc giữa Mệnh Cục để xác lập các sao thuộc vòng Tràng Sinh cư tại đâu thì có lợi, ví dụ khi Cục khắc Mệnh thì Tràng Sinh hoặc Đế Vượng không nên cư Mệnh vì như vậy thì hành khí của Cục rât mạnh nên khắc Mệnh càng mạnh hơn, còn nếu Cục sinh Mệnh thì cần có Tràng Sinh Đế Vượng tại Mệnh thì như vậy mới phù tốt cho Mệnh được. Quan điểm này lấy đối sánh tương quan sinh khắc giữa Mệnh Cục làm gốc. Nếu cho rằng cục biểu lộ thực trạng, thế cuộc thì ta thấy rằng Mệnh có Sinh Vượng thì mặc dầu Mệnh có khắc cục đi chăng nữa thì cũng tốt hơn có Suy Bệnh Tử Mộ TuyệtVòng Tràng Sinh là quy trình sinh ra, lớn lên, già nua và tuyệt diệt của một hành thì từng “ sao ” không có ngũ hành sở thuộc nữa. Có một vài sách tử vi Việt ghi : Tràng Sinh thuộc Thủy, Mộc Dục thuộc Thủy, Quan Đới thuộc Kim là sai đến như Tử mà thuộc Thủy nữa thì là cả một chuyện khôi hài .Ngôi nhà cổ tử vi rất là huyền bí, hoàn toàn có thể nói lâu nay đóng kín, những người ý muốn đột nhập vào để quan thưởng những gì hay đẹp, tất phải lần mò tìm những nút bấm như nhị tam hợp xung chiếu để hòng mở toang cửa nhìn thẳng vào. Xưa nay mới chỉ dòm qua những kẽ hở tạm thấy sau luồng cửa có 3 lần màn phong ngăn ngừa ( 2 tấm dài một tấm ngắn ) .Tấm ngắn treo sát xà nhà thòng xuống để dấu ánh sáng mặt trời trên cao rọi sáng ( thập niên can ), một tấm dài từ mặt đắt đứng lên để che kẽ hở ở dưới đất ( thập nhị địa chi ). Còn một tấm căng ở giữa nối tiếp 2 tấm treo và đứng giáp nhau có ý làm tấm màn kép cho cả 2 tấm kia. Xem ra thật kỹ càng chu đáo. `Ba bức màn này có nghĩa là 3 vòng Lộc tồn ( theo Thiên can ) Thái Tuế ( theo địa chi ) và Tràng sinh ( theo nạp âm cung an mệnh ) mà dịch thành cục diện của số .Lộc tồn nghĩ lại khác gì hưu bổng hay quĩ tiếp kiệm của một cá thể tích góp qua từng kiếp người để đời sống hiện tại có vốn mà kinh doanh thương mại thụ hưởng cho 4 trường hợp đủ 12 tuổi : Giáp Dần Ngọ Tuất, Ất Hợi Mão Mùi, Canh Thân Tí Thìn, Tân Tỵ Dậu Sửu .Thái Tuế ấn định đời sống tư cách hạnh kiểm tứng cá thể, vị trí tam hợp Thái tuế là chỗ ngồi cao trọng trao cho ai nhận xét ra có thành tiếng tăm thiện ý lãnh nghĩa vụ và trách nhiệm những việc làm có tính cách quyền lợi không vị kỷ để rồi thành công xuất sắc đồng hưởng .Phân tách một tuổi theo Can và Chi như thế tưởng cũng đã là kỹ lưỡng, thêm vòng Tràng sinh để biết cục diện biến hóa thật quá tuyệt vời và hoàn hảo nhất. Có đi vào đường huyền bí mới biết công cho ai mải miết mày mò. Sống đời nay lại ra kiếp trước chuyển vận, rồi từ nhập thế cuộc cho đến nhắm mắt tay xuôi, biết đâu bánh xe còn chuyển bao nhiêu vòng nữa .Nhìn kỹ vòng Tràng sinh quả là một vòng xích thông suốt không phân chỗ nào đầu nơi đâu cuối, lôi kéo vòng xe chạy. Phân tích thường tình một thế nhân sinh ra phải khởi đầu bằng thai nghén trong bụng mẹ. Vòng Tràng Sinh lại do Tràng Sinh mà đi để rồi tới thuyết gắn nối thêm 2 quy trình tiến độ Thai Dưỡng là 2 mắt xích dính Tuyệt với Sinh thành một vòng kín chuyển dời đến không biết khi nào hết. Cái hết này có lẽ rằng là ngày tận thế tắt hết cả ngưng đọng trong hư vô .Đoạn đời từ Sinh đến Dưỡng là con đường từ : trẻ thơ ( Sinh ) dậy thì ( Dục ) ganh đua ( Đới ) hãnh diện ( Quan ) oanh liệt ( Vượng ) tàn nhược ( Suy ), ốm đau ( Bệnh ) mãn kiếp ( Tử ) chôn lấp ( Mộ ) quên đứt ( Tuyệt ) tái sinh ( Thai ) nuôi đắp ( Dưỡng ), là biến diện tuần tự từng quãng đời nối đuôi ăn khớp với nhau thì hẳn không còn tam hợp cách ? .Thưa rằng tam hợp Tràng sinh là phần niềm tin như sau :- Sinh Vượng Mộ : Đường hoàng mồ yên- Dục Suy Tuyệt : Vội ham tàn tích- Đới Bệnh Thai : Thịnh suy hoàng dương- Quan Tủ Dưỡng : Giấy rách nát giữ lềBốn tam hợp này lâu nay chỉ nhìn Sinh Vượng Mộ là cách tốt đẹp nhất của người giữ gìn được nhân nghĩa, đến lúc qua đời vẫn được mồ yên mả đẹp mến trọng. Dục Suy Tuyệt là cách ăn xổi ở thì vội ham lục tuỵ, lúc tàn tạ không ai nhắc đến. Đới Mệnh Thai là giấc mộng vàng từ áo mão cân đai đến ốm đau bệnh hoạn chỉ là thịnh suy luân kiếp. Quan Tử Dưỡng là đời đã được hãnh diện dầu đến chết cũng phải tu duỡng tâm linh như tờ giấy trắng có rách nát cũng gấp giữ cho còn nếp .Vòng Tràng sinh có tính cách là một vòng kín lớn tiếp nối chuyển biến từng tiến trình rõ ràng, khi xếp thành tam hợp cũng vẫn giữ được ý nghĩa cả 12 đoạn khúc của vòng, biến hóa là tuỳ Mệnh Thân đóng ở vị trí nào vẫn cho đời là một bài học kinh nghiệm triết lý răn dạy để xử thế. Người có số đang diễn hành trong cảnh nào tự mà lao vào tìm đường để sống. Đó là cái đặc thù của số mới gọi là Vòng Tràng sinh từ thực tại nối tiền kiếp đến hậu thân mãi mãi .Biết rằng tam hợp là căn bản chính của lý số học, thực ra là dương và âm. Thân Tí Thìn là thế chính của dương và Tỵ Dậu Sửu là cơ bản của âm. Còn Dần Ngọ Tuất và Hợi Mão Mùi là 2 thế phụ tức là Thiếu dương và Thiếu âm. So với 2 thế chính luôn luôn ở thế bị khắc nhập .Vậy Sinh Vượng Mộ và Dục Suy Tuyệt là 2 thế chính. Còn Đới Bệnh Thai, Quan Tử Dưỡng là 2 thế phụ, tức là Sinh Vượng Mộ Đới Bệnh Thai là cùng phái. Bên kia Dục Suy Tuyệt Quan Tử Dưỡng đứng chung .Nhìn vào lá số thấy Mệnh và Thân đều cùng chung đặt nằm vào một phía như Mệnh ở dương cung thì Thân luôn luôn ở dương. Không khi nào hoàn toàn có thể đóng ở âm được mặc dầu Phúc hay Quan hay Di hay Tài hay Thê Phu. Vòng Tràng sinh cũng theo thế âm khí và dương khí mà định nghĩa :- Đường hoàng cư xử được người mến quí, lẽ thịnh suy chỉ là luân chuyển ( Sinh Vượng Mộ Đới Bệnh Thai )- Ăn sổi ở thì không ai tưởng niệm, giấy rách nát phải cố giữ lấy lề ( Dục Suy Tuyệt Quan Tử Dưỡng )Thân cũng như Mệnh nếu an ở bên nào cũng chỉ ở trong chung thực trạng đó không hề nhảy qua bên kia được. Mỗi chữ trong vòng Tràng Sinh là một đoạn đường đời, Mệnh ở Sinh hay Vượng đi đến Bệnh hay Tử đương số phải hiểu lẽ thịnh đã qua nay gắng chịu cảnh bĩ cực. Bản chất là đường hoàng thấu đáo mồ yên mả đẹp là quí, lý gì lợi gì cũng không tránh được thời tàn tạ .Người tuổi Giáp Dần sanh tháng 3 giờ Dần .Mệnh an ở Dần, Thân cư Quan ở Ngọ Tam hợp Thái Tuế ) mệnh có Lộc Tồn ngay ở Dần ( Lộc Tồn tuổi Giáp chỉ để riêng cho hàng chi Dần Ngọ Tuất ) với Bác sĩ ở Mệnh và Tướng Quân ở Thân ( Ngọ cung ). Tuổi Giáp Mệnh an ở Dần là hoả cục, Tràng Sinh ngay ở Dần cho người dương nam và Đế vượng cho Thân ở Ngọ. Ba vòng Thái Tuế Lộc Tồn Tràng Sinh đã về hẳn minh bạch phẩm hạnh cá nhân cách là hạng nào, dầu cho Phá Quân thủ mạng ( tối hãm ) cũng không được giá trị của một Thái Tuế huống chi còn là Lộc Tồn Bác sỹ và Tràng sinh ( nhân hậu ). Tóm lại lá số này là của người xứng danh thương hiệu làm người .Sau đại vận 6 – 15 ở Mệnh đến 16-25 ở Phụ Mẫu cung Mão gặp hạn Thiên Không do Đào Hoa chi phối thôi thúc ( vòng Thái Tuế ) Kình Lực ( vòng Lộc Tồn ) Mộc dục ( vòng Tràng Sinh ) phụ giúp .Hỏi rằng người này có nên tàn phá tuổi thiếu niên, vội tìm thụ hưởng và hoàn toàn có thể nào tránh được hạn Thiên Không ( Thái Tuế ) Kình Lực ( Lộc Tồn ) Mộc Dục ( Tràng Sinh ) ?Hẳn là không vạn lần không, Không nên phá tuổi mới chớm nở và cũng không hề tránh nổi đại vận hắc ám Thiên Không này chỉ còn cách từ thiên mệnh mà đi ( còn nhỏ dại chưa hiểu cuộc sống nghĩa vụ và trách nhiệm phải là những bậc cha mẹ và ân sư giáo huấn ). Gác bỏ mọi phù vân lần bước theo tứ đức ( Thiên đức Nguyệt đức Phúc đức Long đức ) vì Thiên Không khi nào cũng đứng kèm tứ đức trong tam hợp và xung chiếu .Do là tiến trình Dục Suy Tuyệt của Tràng sinh người hiểu biết phải nối tiếp theo Quan Tử Dưỡng ( vội ham thì tàn tích giấy rách nát phải xếp có lề ) để chữa chạy cho con trẻ trong vực thẳm .Còn nhiều tiến trình như 46-55 quá ư tỏa nắng rực rỡ công nghiệp hoàn toàn có thể nói là khác thường xuất chúng do Quan Phù ( Thái Tuế ) Tướng Quân ( Lộc Tồn ) vòng Đế vượng ( Tràng Sinh ) ưng ý tô điểm không bút nào tả hết bản hùng ca .Người ở vị trí Thái Tuế dẫu có ở trong tam hợp Dục Suy Tuyệt ( vòng Tràng Sinh ) không hề không tỉnh ngộ giấy rách nát phải giữ lấy lề, xử thế phóng tay để rồi không còn ai tưởng niệm, có chăng chỉ là thân bại danh liệt .Tóm lại cơ bản ưu tiên của tử vi là vòng Thái Tuế. Còn vòng Tràng sinh là giáo lý nhắc nhở thế nhân chuỗi dài thời hạn cuả một kiếp theo khuôn vuông tròn mà xử thế dầu ở thực trạng nào thịnh hay suy .Ba vòng của tử vi hoàn toàn có thể định nghĩa mỗi vòng như sau :Thái tuế : hạnh kiểm tư cách

Lộc Tồn: Hoàng lương một kiếp

Tràng sinh : Đường dài xử thế

(Nguồn: sưu tầm)

Để được liên hệ tư vấn và đặt lịch xem tại Tử Vi Cổ Học, các bạn có thể liên hệ TẠI ĐÂY.

Related Posts

About The Author

Add Comment